đặt vấn đề nghiên cứu dưới hai góc độ: ảnh hưởng tăng nặng trách nhiệm của quan hệ đồng phạm đối với những người đồng phạm (trường hợp phạm tội có tổ chức; trường hợp luật quy định khung hình phạt tăng nặng đối với một số người đồng phạm hoặc quy định khung hình phạt tăng nặng đối với một số tình tiết như: nhiều người hiếp một người, lôi kéo người khác phạm tội…) [18, tr. 78-90], ảnh hưởng của những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS của người đồng phạm này đối với người đồng phạm khác, nhất là của người thực hành đối với các người đồng phạm theo nghĩa hẹp, tức là những người đồng phạm không trực tiếp thực hiện tội phạm: người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức [16, tr. d) Về quyết định hình phạt trong đồng phạm Trong khoa học pháp lý hình sự hiện nay, cũng có khá nhiều quan điểm về khái niệm quyết định hình phạt, nhưng tựu chung lại, khái niệm quyết định hình 13 z phạt có thể được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp: a) Quyết định hình phạt theo nghĩa hẹp là việc "Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội" [61, tr. b) Quyết định hình phạt theo nghĩa rộng bao gồm: quyết định hình phạt chính, quyết định hình phạt bổ sung, quyết định biện pháp chấp hành hình phạt, quyết định các biện pháp tư pháp với mục đích thay thế hoặc hỗ trợ cho hình phạt.
Một số tác giả còn cho rằng, quyết định hình phạt có thể được hiểu theo nghĩa rộng hơn nữa là quyết định biện pháp xử lý đối với người phạm tội [36, tr. Bộ luật hình sự 1985, BLHS 1999 cũng như BLHS 2015 không đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm căn cứ quyết định hình phạt, tuy nhiên, quan điểm của các nhà khoa học hiện nay về căn cứ quyết định hình phạt cơ bản thống nhất với nhau và chỉ khác nhau ở cách thức xây dựng định nghĩa.TS Võ Khánh Vinh thì "các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy định hoặc do giải thích pháp luật mà có buộc Tòa án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người thực hiện tội phạm" [117, tr.TS Dương Tuyết Miên cho rằng "các căn cứ quyết định hình phạt là những cơ sở pháp lý được quy định trong Bộ luật hình sự mà Tòa án buộc phải tuân thủ khi quyết định hình phạt cho người phạm tội nhằm đảm bảo hình phạt đã tuyên đạt được mục đích hình phạt" [61, tr. Trần Văn Sơn thì "các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi có tính chất bắt buộc do luật hình sự quy định mà Tòa án phải tuân thủ khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội" [51, tr. Như vậy, theo các tác giả, các căn cứ quyết định hình phạt trước hết là những đòi hỏi được luật quy định một cách rõ ràng, cụ thể và các đòi hỏi đó mang tính chất bắt buộc đối với Tòa án, Tòa án không thể tùy tiện thêm, bớt trong việc cân nhắc căn cứ quyết định hình phạt.
Trong mọi trường hợp khi quyết định hình phạt Tòa án phải căn cứ vào những đòi hỏi của luật. Khi quyết định hình phạt đối với người đồng phạm thì về nguyên tắc phải tuân thủ các quy định chung về quyết định hình phạt. Tuy nhiên, đồng phạm là một quy 14 z định bổ sung cho chế định tội phạm, có những đặc thù riêng nên khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án còn cần phải căn cứ vào những quy định có tính chất bổ sung quy định tại Điều 53 BLHS 1999: Các quy định của BLHS; tính chất và mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; tính chất đồng phạm; tính chất, mức độ tham gia của từng người đồng phạm. Những căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm này nhìn chung được sự đồng thuận của các nhà khoa học PLHS, chỉ khác trong việc phân tích và bình luận từng căn cứ pháp lý [8, tr.
Làm rõ hơn căn cứ để phân hóa TNHS trong đồng phạm để xác định hình phạt cho từng người đồng phạm, GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng phải căn cứ: "a) Tính chất tham gia (vai trò đối với hoạt động của nhóm phạm tội); b) Mức độ tham gia (phần đóng góp thực tế vào quá trình thực hiện tội phạm); c) Mức độ lỗi; d) Các tình tiết về nhân thân có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt" [38, tr. Phân tích căn cứ quyết định hình phạt, GS.TSKH Đào Trí Úc cho rằng các căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm có sự kết hợp giữa hai yếu tố: "Bản thân hành vi do đồng phạm gây ra và mức độ tham gia của từng người. Quy định căn cứ quyết định hình phạt nêu trên chưa nói rõ được một thực tế Tòa án đã từng xác định tất cả những người tham gia đồng phạm đều phải được quyết định hình phạt theo điều quy định hành vi của người thực hiện" [116, tr. đ) Về các vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự trong đồng phạm Thứ nhất, về vấn đề chủ thể đặc biệt trong đồng phạm: Mặc dù chủ thể đặc biệt trong đồng phạm không được quy định trong các BLHS Việt Nam nhưng trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam luôn có nhận thức thống nhất: Đối với những tội phạm đòi hỏi chủ thể đặc biệt, chỉ cần người thực hành có những đặc điểm của chủ thể đó.
Những người đồng phạm khác không nhất thiết phải có những đặc điểm của chủ thể đặc biệt [8, tr. Thứ hai, về vấn đề xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm: Vì nguyên nhân ngoài ý muốn, người đồng phạm đã không thực hiện được toàn bộ quá trình phạm tội mà phải dừng lại ở các thời điểm khác nhau. Người đồng phạm dừng việc phạm tội có giai đoạn phạm tội nào phải chịu TNHS tương ứng ở giai đoạn đó. 15 z BLHS 1985 và BLHS 1999 không có điều luật nào trực tiếp quy định về các giai đoạn thực hiện tội phạm của những người đồng phạm.
Do vậy, trong thực tế việc nhận thức cũng như vận dụng chế định này không thống nhất. Quan điểm phổ biến hiện nay là việc xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm của những người đồng phạm hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ thực hiện tội phạm của người thực hành. "Nếu những người đồng phạm không thực hiện được tội phạm đến cùng do những nguyên nhân khách quan thì người thực hành thực hiện tội phạm đến giai đoạn nào họ phải chịu trách nhiệm hình sự đến giai đoạn đó" [8, tr. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, quan điểm này chưa hợp lý vì tuyệt đối hóa vai trò của người thực hành, xem nhẹ tính độc lập tương đối của những người đồng phạm khác [99, tr.
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự có nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm của những người đồng phạm [82, tr. Quan điểm tương đối phổ biến khác chỉ xem xét hai trường hợp xúi giục chưa đạt, giúp sức chưa đạt và coi hai trường hợp này tương tự như chuẩn bị phạm tội [99, tr. Trần Quang Tiệp cho rằng, để xác định TNHS đối với xúi giục chưa đạt, giúp sức chưa đạt hay tổ chức thực hiện tội phạm chưa đạt, cũng như các giai đoạn thực hiện tội phạm khác của từng người đồng phạm, cần phải nghiên cứu toàn bộ các giai đoạn thực hiện tội phạm của người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức một cách độc lập tương đối. Phải làm rõ đặc điểm của từng giai đoạn phạm tội từ chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đến tội phạm hoàn thành của cả bốn loại người đồng phạm [99, tr.TS Lê Thị Sơn cũng có quan điểm không thể xác định giai đoạn của những người đồng phạm lệ thuộc hoàn toàn vào giai đoạn phạm tội của người thực hành, bởi vì tất cả các hành vi tham gia, tuy có mối liên kết thống nhất với nhau nhưng mỗi loại hành vi vẫn có đặc điểm riêng và có tính độc lập tương đối, phản ánh vai trò nhất định đối với quá trình thực hiện tội phạm [79, tr.
Thứ ba, về vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm: Trong vụ đồng phạm, khi có sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của một người hay một số người thì việc miễn TNHS chỉ được áp dụng đối với người đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Khoa học pháp lý hình sự Việt Nam cơ bản thống nhất các điều kiện về vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đối với 16 z người thực hành. Nếu trong vụ đồng phạm chỉ có một người thực hành thì vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội như trường hợp phạm tội riêng lẻ. Trong vụ án có nhiều người thực hành đã có người từ bỏ ý định phạm tội, có người không từ bỏ ý định phạm tội thì người từ bỏ ý định phạm tội chỉ được miễn TNHS trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nếu họ không làm hoặc những việc họ đã làm trước khi từ bỏ ý định phạm tội không giúp gì cho những người đồng phạm khác.
Còn nếu những việc mà họ đã làm được những người đồng phạm khác sử dụng thì họ phải có hành vi tích cực ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm đó. Đối với người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức được miễn TNHS trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nếu họ ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm không xảy ra. Về thời điểm chấm dứt phải trước khi hành vi của người thực hành ở giai đoạn chưa đạt đã hoàn thành hoặc giai đoạn hoàn thành [8, tr. Thống nhất với các điều kiện về hành vi khách quan đối với việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức nhưng tập thể tác giả Trường Đại học Luật Hà Nội trong giáo trình luật hình sự Việt Nam năm 1994 và các tác giả Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội cho rằng hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của các loại người đồng phạm này phải được thực hiện trước khi người thực hành bắt tay vào việc thực hiện tội phạm [108, tr.