Tổng quan luận án

Công trình "Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam" được tác giả Phí Thành Chung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Văn Luyện, bảo vệ năm 2016 tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 62 38 01 04).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Đồng phạm là hình thức phạm tội đặc biệt có sự tham gia của nhiều người với sự tương tác, hỗ trợ nhằm đạt mục đích chung. Do tính chất liên kết, hậu quả do đồng phạm gây ra thường lớn hơn so với tội phạm đơn lẻ. Theo số liệu của Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Nội, các vụ án đồng phạm chiếm 15,42% tổng số vụ án và 28,11% tổng số bị cáo được xét xử. Mặc dù Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và BLHS năm 2015 đã quy định về đồng phạm, song thực tiễn lập pháp và áp dụng vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống:

  • Các quy định về phạm tội có tổ chức chưa bao quát được sự phát triển của các băng nhóm mang tính chất xã hội đen hoặc có dấu hiệu tội phạm mafia.
  • Chưa có các quy định riêng biệt, hoàn chỉnh về cơ sở trách nhiệm hình sự (TNHS) trong đồng phạm, giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nguyên tắc xác định và phân hóa TNHS đối với từng loại người đồng phạm.
  • Nhận thức và áp dụng pháp luật tại các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thống nhất, dẫn đến việc xác định trách nhiệm quá nặng hoặc quá nhẹ; tỷ lệ án bị hủy (1,53%) và sửa (9,81%) ở cấp huyện tại Hà Nội còn cao.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu là làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về TNHS trong đồng phạm, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định của BLHS và các giải pháp bảo đảm áp dụng trong xét xử.

Luận án thực hiện 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận về khái niệm, cơ sở, nguyên tắc xác định TNHS trong đồng phạm, đồng phạm chưa hoàn thành và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm.
  2. Phân tích, so sánh quy định của pháp luật hình sự (PLHS) Việt Nam với PLHS một số quốc gia và luật hình sự quốc tế để rút ra các giá trị kế thừa, tiếp thu.
  3. Khái quát lịch sử hình thành, phát triển của chế định TNHS trong đồng phạm theo PLHS Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.
  4. Phân tích thực tiễn xét xử, đánh giá kết quả đạt được, chỉ rõ 9 hạn chế, thiếu sót điển hình và nguyên nhân của những tồn tại đó.
  5. Đề xuất các định hướng, nội dung sửa đổi, bổ sung BLHS và các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của PLHS, các quan điểm lý luận khoa học và thực tiễn áp dụng các quy định về TNHS trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tiễn xét xử trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung khảo sát chuyên sâu tại địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Khảo cứu lịch sử lập pháp từ năm 1945 đến năm 2015; thu thập, phân tích số liệu thống kê thực tiễn xét xử trong giai đoạn 10 năm (2006–2015).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Chế định đồng phạm và TNHS trong đồng phạm đã được đề cập trong nhiều công trình khoa học pháp lý:

  • Về khái niệm và bản chất TNHS: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Hùng (1999); các công trình nghiên cứu của Lê Thị Sơn (1997, 2001) về cấu trúc hai mặt của quan hệ TNHS; công trình của GS.TSKH Lê Văn Cảm (2005) về định nghĩa tích cực và tiêu cực của TNHS.
  • Về khái niệm và dấu hiệu đồng phạm: Giáo trình của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội (1983); các nghiên cứu của Đặng Văn Doãn (1986, 1999) phân tích nghĩa rộng và nghĩa hẹp của đồng phạm; công trình của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2010), Trần Quang Tiệp (2009).
  • Về nguyên tắc xác định TNHS và quyết định hình phạt trong đồng phạm: Nghiên cứu của GS.TSKH Đào Trí Úc (1998, 2000) về vai trò, mức độ tham gia; PGS.TS Cao Thị Oanh (2011) về nguyên tắc phân hóa TNHS; các nghiên cứu của GS.TS Võ Khánh Vinh (1993), PGS.TS Dương Tuyết Miên (2004), Trần Văn Sơn (2002) về căn cứ quyết định hình phạt; công trình của Nguyễn Quang Quýnh (1973) về luật hình sự tổng quát.
  • Về các vấn đề đặc thù: Vấn đề các giai đoạn phạm tội của người đồng phạm được Trần Quang Tiệp (2009), Lê Thị Sơn (2004) tiếp cận theo tính độc lập tương đối; vấn đề chủ thể đặc biệt và TNHS của pháp nhân trong các nghiên cứu của Đinh Văn Quế, Nguyễn Ngọc Anh.

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Khoa học pháp lý Xô Viết và Liên bang Nga: Công trình của Brainhin Ia.M (1955, 1963), Lêikina N.X (1968), Karpusin M.I (1974), Bagri-Sakhmatôv L.V (1976), Xantalôv A.I (1982), Alêkxeev N.Đ (1961), Zelđôv X.I (1974), Prokhorô B.X (1984), Xtrutchkôv N.A (1978), Sargorôđxki M.Đ (1968), Kôvalev M.I (1971), Bratux X.I, Ignatôv A.A (1996); các sách chuyên khảo về đồng phạm của Ph. Burơtrắc (1969, 1986), P. Grisaev (1959), P. Telnốp (1974), Vlađimirơ Xônagiơ (1962).
  • Khoa học pháp lý Trung Quốc: Công trình của Lý Quang Xán (1957) và tập thể tác giả sách "Nguyên tắc hình pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa" (1960) nghiên cứu phân hóa trách nhiệm giữa người xúi giục, người giúp sức và người thực hành.
  • Hệ thống Common Law và Civil Law: Công trình nghiên cứu mặt chủ quan của tòng phạm của Sherif Girgis trên Yale Law Journal (2013); giáo trình "Criminal Law: Theory and Doctrine" của A.J. Virgo và cộng sự phân tích trách nhiệm phái sinh; chuyên khảo "Basic Concepts of Criminal Law" của George P. Fletcher (1998); các học thuyết về TNHS của pháp nhân gồm Thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability), Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (Identification liability) và Thuyết văn hóa (System/Culture theory).

Khoảng trống luận án giải quyết

  1. Chưa có công trình chuyên khảo ở cấp độ tiến sĩ nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về TNHS trong đồng phạm như một chế định độc lập trong khoa học luật hình sự Việt Nam.
  2. Thiếu sự thống nhất lý luận về định nghĩa khoa học của TNHS trong đồng phạm, căn cứ xác định TNHS, việc phân hóa giai đoạn thực hiện tội phạm và điều kiện tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của từng loại người đồng phạm.
  3. Chưa có công trình tổng kết toàn diện lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay kết hợp với so sánh luật học quốc tế đối với chế định này.
  4. Thiếu công trình nghiên cứu thực tiễn xét xử 10 năm (2006–2015), kết hợp phân tích mẫu 300 bản án hình sự thực tế và khảo sát thẩm phán để chỉ rõ 9 hạn chế cụ thể trong xét xử các vụ án có đồng phạm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở phương pháp luận: Học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Lý thuyết cấu thành tội phạm và tự do ý chí: Tự do ý chí là cơ sở xác định lỗi và TNHS. Cấu thành tội phạm của hành vi đồng phạm là cấu thành tội phạm bổ sung, được hình thành từ sự kết hợp giữa quy phạm phần chung về đồng phạm và quy phạm phần các tội phạm cụ thể.
  • Học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm: Dùng để giải thích trách nhiệm hình sự của pháp nhân và mối liên hệ đồng phạm giữa pháp nhân với thể nhân đại diện hoặc giữa các pháp nhân với nhau.
  • Lý thuyết phân hóa và cá thể hóa TNHS: Khung phân tích nhằm xác lập sự cân bằng giữa trách nhiệm chung đối với toàn bộ tội phạm và trách nhiệm độc lập của từng cá nhân theo mức độ tham gia.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích pháp lý: Phân tích nội hàm quy phạm của BLHS Việt Nam qua các thời kỳ và luật hình sự nước ngoài; phân tích thực trạng áp dụng quy định trong các bản án.
  • Phương pháp lịch sử: Khảo cứu tiến trình phát triển của các quy phạm về đồng phạm trong các văn bản pháp luật từ sau năm 1945 (Sắc lệnh, Thông tư, BLHS 1985, BLHS 1999, BLHS 2015).
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các quan điểm học thuật trong và ngoài nước thành hệ thống khái niệm, nguyên tắc và mô hình lý luận.
  • Phương pháp thống kê xã hội học: Xử lý và tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các vụ án hình sự có đồng phạm tại TAND hai cấp thành phố Hà Nội trong giai đoạn 10 năm (2006–2015).
  • Phương pháp nghiên cứu điển hình: Khảo sát, phân tích chi tiết 300 bản án hình sự có đồng phạm được lựa chọn ngẫu nhiên từ thực tiễn xét xử tại Hà Nội.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định của PLHS Việt Nam với pháp luật hình sự Liên bang Nga, Trung Quốc, các nước thuộc truyền thống Ănglô - Sắcxông, Châu Âu lục địa và Quy chế Tòa án Hình sự Quốc tế.

Nguồn dữ liệu

  • Văn bản quy phạm pháp luật: Các Sắc lệnh giai đoạn 1945–1985, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), BLHS năm 2015; văn bản pháp luật quốc tế và một số quốc gia.
  • Dữ liệu tư pháp thực tế: Báo cáo tổng kết công tác xét xử của TAND thành phố Hà Nội giai đoạn 2006–2015; hồ sơ 300 bản án hình sự có đồng phạm; phiếu khảo sát ý kiến thẩm phán và cán bộ tố tụng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 3 nhóm nội dung chính:

  • Tình hình nghiên cứu trong nước: Phân tích các khuynh hướng nghiên cứu về khái niệm TNHS, các dấu hiệu đồng phạm, 3 nguyên tắc xác định TNHS trong đồng phạm (chịu trách nhiệm chung, chịu trách nhiệm độc lập, cá thể hóa hình phạt), các căn cứ quyết định hình phạt theo Điều 53 BLHS 1999, vấn đề chủ thể đặc biệt, các giai đoạn thực hiện tội phạm và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
  • Tình hình nghiên cứu ngoài nước: Điểm luận các công trình của các học giả Liên Xô, Liên bang Nga, Trung Quốc và các nước phương Tây về mặt chủ quan (mens rea), trách nhiệm phái sinh, các mô hình phân hóa vai trò chính phạm - tòng phạm, cùng 3 học thuyết về TNHS của pháp nhân (trách nhiệm thay thế, đồng nhất hóa, văn hóa).
  • Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu: Luận án chỉ ra 4 vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo, bao gồm việc xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn xác, phân hóa giai đoạn phạm tội, khảo cứu toàn diện lịch sử và khảo sát thực tiễn 10 năm để chỉ ra các sai sót trong xét xử.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm

Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm, cơ sở và nguyên tắc lý luận cho chế định:

  • Khái niệm đồng phạm và TNHS trong đồng phạm: Phân tích các yếu tố khách quan và chủ quan của đồng phạm. Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: "Đồng phạm là hình thức phạm tội có hai người (bao gồm thể nhân và pháp nhân) trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hiện, người xúi giục, người giúp sức hoặc người tổ chức".
  • Cơ sở xác định TNHS trong đồng phạm: Khẳng định cơ sở pháp lý là cấu thành tội phạm bổ sung (kết hợp quy định phần chung và phần các tội phạm); cơ sở thực tiễn là hành vi tham gia thực tế; cơ sở triết học là sự tự do ý chí của các bên tham gia.
  • Bản chất hỗn hợp của TNHS trong đồng phạm: TNHS trong đồng phạm vừa mang tính liên đới (trách nhiệm chung về hậu quả của toàn bộ tội phạm), vừa mang tính cá nhân (trách nhiệm độc lập đối với phần hành vi và mức độ đóng góp của từng người).
  • Các nguyên tắc xác định TNHS trong đồng phạm:
    1. Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm: Mọi người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử theo cùng một tội danh, điều luật và trong phạm vi chế tài của điều luật đó; cùng chịu các nguyên tắc chung của luật hình sự.
    2. Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tham gia: Mỗi người chỉ chịu trách nhiệm về hành vi trong phạm vi ý chí chung, không chịu trách nhiệm đối với hành vi vượt quá (thái quá) của người đồng phạm khác; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc miễn TNHS thuộc về ai thì chỉ áp dụng riêng cho người đó.
    3. Nguyên tắc cá thể hóa TNHS: Đòi hỏi việc quyết định hình phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ tham gia, vai trò thực tế của từng người (người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức).
  • TNHS của pháp nhân trong đồng phạm: Áp dụng thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm để luận giải mối quan hệ đồng phạm khi pháp nhân tham gia tội phạm thông qua thể nhân đại diện.
  • Luật học so sánh: Khảo cứu quy định về phân loại đồng phạm, mức độ trách nhiệm và chế định tự ý từ bỏ tội phạm trong PLHS Liên bang Nga, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hoa Kỳ và Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế.

Chương 3: Pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm ở giai đoạn xét xử

Chương 3 tập trung vào lịch sử lập pháp và phân tích thực tiễn xét xử:

  • Lịch sử PLHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay:
    • Giai đoạn 1945–1985: Quy định phân tán trong các Sắc lệnh, Thông tư với các thuật ngữ "cộng phạm", "chính phạm", "tòng phạm".
    • Giai đoạn BLHS 1985: Lần đầu tiên pháp điển hóa hoàn chỉnh chế định đồng phạm và phân loại 4 loại người đồng phạm tại Điều 17.
    • Giai đoạn BLHS 1999 và BLHS 2015: Hoàn thiện định nghĩa phạm tội có tổ chức, bổ sung nguyên tắc quyết định hình phạt và quy định TNHS của pháp nhân thương mại.
  • Số liệu thực tiễn xét xử tại Hà Nội (2006–2015):
Tiêu chí thống kê tại TAND hai cấp TP. Hà Nội Tỷ lệ / Số lượng ghi nhận
Tỷ lệ vụ án có đồng phạm trên tổng số vụ án hình sự 15,42%
Tỷ lệ bị cáo trong các vụ án đồng phạm trên tổng số bị cáo 28,11%
Tỷ lệ án có đồng phạm bị cấp phúc thẩm hủy (TAND cấp huyện) 1,53%
Tỷ lệ án có đồng phạm bị cấp phúc thẩm sửa (TAND cấp huyện) 9,81%
Quy mô mẫu bản án phân tích chuyên sâu 300 bản án ngẫu nhiên
  • 9 hạn chế, thiếu sót điển hình trong thực tiễn xét xử:
    1. Đánh giá không đúng tính chất của vụ án đồng phạm, nhầm lẫn giữa đồng phạm giản đơn và phạm tội có tổ chức.
    2. Xác định sai vai trò của từng người đồng phạm (không phân biệt rõ giữa người khởi xướng/chủ mưu với người giúp sức đơn thuần).
    3. Bỏ lọt hành vi vượt quá của người thực hành, quy kết oan trách nhiệm cho người giúp sức hoặc người xúi giục đối với hậu quả vượt quá.
    4. Không phân hóa giai đoạn thực hiện tội phạm của từng người đồng phạm khi người thực hành dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị hoặc chưa đạt.
    5. Áp dụng sai quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (cho người tổ chức/xúi giục hưởng miễn TNHS khi chưa ngăn chặn được hậu quả).
    6. Áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mang tính cá nhân chung cho tất cả các bị cáo trong vụ án.
    7. Quyết định hình phạt thiếu tính cá thể hóa, áp dụng mức án ngang bằng giữa người giữ vai trò chính và người giữ vai trò thứ yếu.
    8. Sai sót trong việc xác định TNHS đối với người chưa thành niên tham gia trong vụ án đồng phạm.
    9. Đánh giá không đúng mối quan hệ nhân quả và mức độ đóng góp thực tế của hành vi giúp sức về mặt tinh thần hoặc vật chất.
  • Nguyên nhân của hạn chế: Quy định của BLHS còn trừu tượng, thiếu văn bản hướng dẫn áp dụng của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC); năng lực, kỹ năng đánh giá chứng cứ của một bộ phận Thẩm phán còn hạn chế.

Chương 4: Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm và các giải pháp bảo đảm áp dụng

Chương 4 đưa ra các giải pháp đồng bộ:

  • Cơ sở hoàn thiện: Dựa trên định hướng cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và đòi hỏi đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia.
  • Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Bổ sung quy định cụ thể về cơ sở TNHS trong đồng phạm và nguyên tắc xác định TNHS độc lập, trách nhiệm liên đới vào BLHS.
    • Hoàn thiện quy định về các giai đoạn thực hiện tội phạm của từng loại người đồng phạm (người tổ chức, xúi giục, giúp sức chưa đạt).
    • Quy định cụ thể điều kiện tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đối với từng loại người đồng phạm (bắt buộc phải có hành vi tích cực ngăn chặn tội phạm đối với người tổ chức, xúi giục).
    • Hoàn thiện quy định về phạm tội có tổ chức, tách bạch rõ ràng giữa phạm tội có tổ chức thông thường và tổ chức tội phạm có tính chất băng nhóm, mafia.
    • Bổ sung cơ chế xử lý đồng phạm đối với pháp nhân thương mại.
  • Các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật:
    • TANDTC cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định về đồng phạm và quyết định hình phạt trong đồng phạm.
    • Tăng cường phát triển án lệ hướng dẫn giải quyết các vụ án đồng phạm phức tạp, phân biệt hành vi vượt quá.
    • Nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng tranh tụng và đánh giá chứng cứ cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Kiểm sát viên.
    • Tăng cường kiểm tra, giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới nhằm giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học tại Việt Nam giải quyết một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận về TNHS trong đồng phạm.
  • Xây dựng định nghĩa khoa học mới về đồng phạm, bao quát cả chủ thể thể nhân và pháp nhân; xác lập rõ cơ sở triết học (tự do ý chí) và cơ sở pháp lý (cấu thành tội phạm bổ sung) của TNHS trong đồng phạm.
  • Làm rõ bản chất pháp lý hỗn hợp của TNHS trong đồng phạm, thống nhất nội hàm 3 nguyên tắc xác định trách nhiệm: chịu trách nhiệm chung, chịu trách nhiệm độc lập và cá thể hóa hình phạt.
  • Hoàn thiện lý luận về việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm và điều kiện tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội mang tính độc lập tương đối của từng loại người đồng phạm.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển của PLHS Việt Nam về TNHS trong đồng phạm từ năm 1945 đến nay.
  • Cung cấp bức tranh thực chứng thông qua số liệu thống kê 10 năm (2006–2015) và khảo sát 300 bản án hình sự thực tế tại TAND thành phố Hà Nội.
  • Nhận diện, phân tích chi tiết 9 nhóm hạn chế, sai sót điển hình trong giai đoạn xét xử kèm theo các nguyên nhân gốc rễ.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung BLHS và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, hướng dẫn xét xử và đào tạo tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu khảo sát thực tiễn chuyên sâu và phân tích mẫu bản án chủ yếu tập trung trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2006–2015; chưa có điều kiện khảo sát thực tế đồng bộ tại tất cả các vùng miền trên toàn quốc. Chế định TNHS của pháp nhân thương mại trong đồng phạm tại thời điểm nghiên cứu (2016) là vấn đề mới được quy định trong BLHS 2015 nên chưa có nhiều án văn thực tiễn để đánh giá kiểm chứng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS năm 2015 về đồng phạm đối với pháp nhân thương mại; mở rộng khảo sát thực tiễn xét xử trên phạm vi toàn quốc và nghiên cứu chuyên sâu về đồng phạm xuyên quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tiến hành tố tụng: Là tài liệu tham khảo cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS về đồng phạm; hỗ trợ Hội đồng Thẩm phán TANDTC trong việc xây dựng Nghị quyết hướng dẫn áp dụng pháp luật và phát triển án lệ về xử lý án đồng phạm.
  • Đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư: Cung cấp cơ sở lý luận và các tiêu chí cụ thể để nhận diện vai trò, phân hóa trách nhiệm, tránh các sai lầm trong việc xử lý hành vi vượt quá, xác định giai đoạn phạm tội và quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Là tài liệu chuyên khảo phục vụ học tập, giảng dạy môn Luật hình sự, Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật, Viện nghiên cứu, cũng như phục vụ các học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành luật học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa đồng phạm như thế nào?

Luận án đưa ra định nghĩa: "Đồng phạm là hình thức phạm tội có hai người (bao gồm thể nhân và pháp nhân) trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hiện, người xúi giục, người giúp sức hoặc người tổ chức".

2. Ba nguyên tắc cơ bản xác định TNHS trong đồng phạm gồm những gì?

Ba nguyên tắc bao gồm:

  1. Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm (cùng tội danh, điều luật và phạm vi chế tài).
  2. Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tham gia (chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi ý chí chung, không chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người khác; tình tiết cá nhân áp dụng riêng).
  3. Nguyên tắc cá thể hóa TNHS (hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tham gia và nhân thân của từng người).

3. Cơ sở pháp lý của TNHS trong đồng phạm được tác giả xác định là gì?

Cơ sở pháp lý của TNHS trong đồng phạm là cấu thành tội phạm bổ sung, được tạo thành từ sự kết hợp giữa các dấu hiệu của chế định đồng phạm trong phần chung của BLHS với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản trong phần các tội phạm cụ thể.

4. Tỷ lệ các vụ án đồng phạm và tỷ lệ án bị hủy, sửa tại Hà Nội giai đoạn 2006–2015 được ghi nhận ra sao?

Theo số liệu thống kê tại TAND hai cấp thành phố Hà Nội:

  • Án đồng phạm chiếm 15,42% tổng số vụ án và 28,11% tổng số bị cáo.
  • Tại TAND cấp huyện, tỷ lệ án đồng phạm bị cấp phúc thẩm hủy là 1,53% và bị sửa là 9,81%, cao hơn so với tỷ lệ chung của các vụ án hình sự không có đồng phạm.

5. Điều kiện tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người xúi giục và người giúp sức được luận giải thế nào?

Người xúi giục và người giúp sức chỉ được miễn TNHS do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nếu họ có hành vi tích cực ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm và hậu quả của tội phạm không xảy ra. Việc chấm dứt phải diễn ra trước khi người thực hành bắt đầu thực hiện hành vi hoặc trước khi tội phạm hoàn thành.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam" của tác giả Phí Thành Chung đã nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về mặt lý luận, lập pháp và thực tiễn xét xử chế định đồng phạm. Công trình đã xác lập cơ sở khoa học về cấu thành tội phạm bổ sung, tự do ý chí và ba nguyên tắc xác định TNHS trong đồng phạm, đồng thời chỉ ra 9 hạn chế điển hình qua khảo sát 300 bản án tại Hà Nội giai đoạn 2006–2015. Các đề xuất hoàn thiện BLHS và nhóm giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, hướng dẫn xét xử và nghiên cứu, đào tạo pháp lý hình sự tại Việt Nam.