Chương I KHÁI NIỆM DONG PHAM VÀ CÁC LOẠI NGƯỜI DONG PHAM 1. KHÁI NIỆM ĐỒNG PHẠM VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ 1. Khái niệm đồng phạm Một tội phạm cụ thể có thể do một người thực hiện, nhưng cũng có thể do nhiều người thực hiện. Khi tội phạm do nhiều người thực hiện có thể có đồng phạm, cũng có thể chỉ là trường hợp những người thực hiện tội phạm đã hành động trong sự độc lập hoàn toàn với nhau.
Khi nào có đồng phạm, khi nào không có đồng phạm, vấn đề phụ thuộc vào nhận thức, quan niệm về đồng phạm như thế nào trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Trong lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) - Bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê nước ta (1428-1788) đã đề cập đến vấn đề đồng phạm tại các Điều 35, 36, 116, 411, 412, 454, 469, 539. Bộ luật không quy định khái niệm về đồng phạm. Tính đồng phạm mới được thể hiện ở nguyên tắc trừng trị tệi phạm: "Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc.
Nếu tất cả người trong một nhà cùng phạm tội, chỉ bắt tội người tôn trưởng" [39, 46]. Phạm vi đồng phạm không những bao gồm người khởi xướng, kẻ chủ mưu, người a tòng, thủ phạm, tòng phạm, kẻ đồng mưu, kẻ xúi giục mà còn bao gồm cả những người thuộc phạm trù liên quan đến tội phạm như quy định tại Điều 412: "Những kẻ mưu phản nước theo giặc thì xử chém, nếu đã hành động thì xử tội bêu đầu, kẻ biết việc ấy thì cũng đồng tội [39, 153]. Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) được khắc in lần đầu năm 1812. Mặc dù chịu ảnh hưởng Luật Thanh Triều khá nặng nề, nhưng nhiều điều luật, trong đó có các điều luật quy định về đồng phạm vẫn tiếp thu quy định của Bộ luật Hồng Đức mà không có bước tiến đáng kể nào về kỹ thuật lập pháp.
Ví dụ: Điều 29 quy định "Phàm cùng phạm tội thì lấy người tạo ý đầu tiên làm thủ, những người tùy tùng giảm một bậc. Nếu mọi người trong một nhà cùng phạm tội thì buộc tội một mình tôn trưởng” [30, 181]. Từ năm 1858 đến trước Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp xâm lược nước ta cho nên hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật hình sự của nước ta nói riêng lúc đó chịu ảnh hưởng tư duy pháp lý của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Hoàng Việt hình luật được ban hành ngày 3-7-1933 chỉ có hiệu lực ở miền Trung, đã có hẳn chương IX quy định về chế định đồng phạm với tên gọi: Nhiều người đồng một tội đại hình hoặc trừng trị - tùng phạm.
Tuy nhiên, Bộ luật này cũng không có khái niệm về đồng phạm. Tính đồng phạm vẫn chỉ dừng ở nguyên tắc trừng trị tội phạm: “Khi nào nhiều người đồng can một tội đại hình hoặc trừng trị mà xét rõ là đáng tội, quan tòa án phải xét trong những người ấy hoặc một người hoặc nhiều người là chánh yếu phạm, còn những người khác thời cho là tùng phạm, mà nghĩ xử tội bằng phần nửa tội người chánh yếu phạm” [7, 273]. Sau Cách mạng tháng Tám, chế định đồng phạm tiếp tục hình thành và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật nước ta nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Chế định đồng phạm được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật hình sự, nhưng mới chỉ được xem xét ở một số khía cạnh nhất định, vẫn chưa có quy định về khái niệm đồng phạm.
Trong các Sắc lệnh do Nhà nước ta ban hành ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công nhằm bảo vệ chính quyền nhân dân non trẻ, bảo vệ các thành quả cách mạng vừa giành được, bảo vệ trật tự xã hội mới và các quyền công dân, phạm vi đồng phạm được quy định rộng, bao gồm cả hành vị oa trữ tức là hành vi chứa chấp, tiêu thụ của gian, không phân biệt có hứa hẹn trước hay không. Ví dụ: Tại Điều 2 Sắc lệnh số 27-SL ngày 28-2-1946 về truy tố các tội bắt cóc, tống tiền, ám sát quy định: "Những người tòng phạm hoặc oa trữ những tang vật của tội phạm trên cũng bị phạt như chính phạm" [45, 79]. Thời gian này, do chịu ảnh hưởng của tư duy pháp lý châu Âu lục địa, các văn bản pháp luật hình sự của nước ta vẫn sử dụng các khái niệm chính phạm, tòng phạm. Thuật ngữ đồng phạm đã xuất hiện lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 223 ngày 17-11-1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ: "Người phạm tội còn có thể bị xử, tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản.
Các đồng phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên" [45, 104]. Nhưng đồng phạm ở đây được hiểu tương ứng với thuật ngữ coauteur của luật hình sự Pháp với nghĩa là đồng thực hành [71, 60]. Trong các văn bản pháp luật hình sự được ban hành ở thời điểm trước và sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi như Sắc lệnh số 133-SL ngày 20-1-1953 trừng trị những tội phạm đến an toàn Nhà nước, đối nội và đối ngoại; Sắc lệnh số 267-SL ngày 15-6-1956 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch nhà nước, tính đồng phạm được thể hiện ở nguyên tắc trừng trị tội phạm "Nghiêm trị bọn chủ mưu, cầm đầu, bọn ngoan cố; khoan hồng đối với những người bị lừa phinh, bị ép buộc, lầm đường" [45, 193]. Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm đồng phạm đã bắt đâu xuất hiện trong các sách báo pháp lý, các báo cáo tổng kết của ngành Tòa án.
Trong Báo cáo tổng kết công tác năm 1963 của Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra khái niệm cộng phạm: "Hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức, hoặc trực tiếp cùng tham gia tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội" [44, 30]; hoặc trong giáo trình hình luật XHCN của Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội đã nêu ra khái niệm hoàn chỉnh hơn: "Hai hoặc nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện một tội phạm thì gọi là cộng phạm" [27, 167]. 10 Về mặt lập pháp hình sự, trong các văn bản pháp luật hình sự ban hành lúc đó như Pháp lệnh ngày 30-10-1967 trừng trị các tội phản cách mạng, Pháp lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN, Pháp lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân vẫn chưa đưa ra khái niệm về đồng phạm, nhưng nhận thức và quy định về đồng phạm có bước tiến bộ đáng kể. Đáng chú ý nhất là trong các văn bản pháp luật hình sự nói trên đã phân biệt được các hành vi che giấu phần tử phản cách mạng, chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản XHCN, tài sản riêng của công dân mà đặc điểm là kẻ chứa chấp, che giấu, tiêu thụ không bàn bạc trước, thỏa thuận trước với phần tử phản cách mạng hoặc với kẻ chiếm đoạt là các tội riêng biệt (tội che giấu phần tử phản cách mạng; tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản XHCN bị chiếm đoạt; tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản riêng của công dân bị chiếm đoạt) với các trường hợp cộng phạm của các tội phản cách mạng, các tội xâm phạm tài sản XHCN, các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân, trong đó kẻ chứa chấp, che giấu, tiêu thụ đã hứa hẹn trước, thỏa thuận trước với phần tử phản cách mạng, kẻ đi chiếm đoạt với vai trò xúi giục, giúp sức hoặc nhiều khi với vai trò chủ mưu, cầm đâu. Như vậy, so với Sắc lệnh số 27-SL ngày 28-2-1946, phạm vi đồng phạm đã được thu hẹp hơn, đã khắc phục được hạn chế coi hành vi oa trữ không phân biệt có hứa hẹn trước hay không là hành vi đồng phạm của các văn bản pháp luật hình sự ban hành ngay sau Cách mạng tháng Tám.
Luật hình sự của các nước XHCN (trước đây) nói chung chịu ảnh hưởng luật hình sự của Liên Xô (trước đây). Chế định đồng phạm, khái niệm đồng phạm cũng được quy định tương tự như trong luật hình sự của Cộng hòa XHCN Xô viết Liên bang Nga. Ví dụ: Điều 17 BLHS của Cộng hòa XHCN Xô viết Liên bang Nga quy định: “Sự cố ý cùng tham gia thực hiện một tội phạm của hai hay nhiều người là đồng phạm” [58, 37]; Điều 13 BLHS của CHND Mông Cổ cũng quy định tương tự như vậy. Riêng BLHS 11 ban hành năm 1979 cũng như BLHS sửa đổi năm 1997 của CHND Trung Hoa còn quy định thêm “hai hoặc nhiều người vô ý thực hiện một tội phạm thì không phải là đồng phạm” [10, 13], [74, 6].
Tuy nhiên, quan niệm về đồng phạm nói trên cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, các nhà hình sự học tiến bộ vẫn phải tiếp tục kế thừa và phát triển nó. Trong khoa học luật hình sự, một số nhà hình sự học Liên Xô (trước đây) không hoàn toàn thừa nhận quan niệm trên mà giữ quan điểm cho rằng đồng phạm không những xảy ra trong trường hợp phạm tội với lỗi cố ý mà còn có thể xảy ra trong trường hợp phạm tội với lỗi vô ý. Đại biểu cho trường phái này là các nhà hình sự học Liên Xô (trước đây) A. Để luận chứng cho luận điểm của mình, A.
Tơrainhin đưa ra một ví dụ: Ba người thợ săn tên là A, B, V trên đường từ rừng trở về nhà thì nhìn thấy một người nông dân đang ngồi dùng tẩu hút thuốc ở gốc cây phía xa. A đề nghị B hãy trổ tài thiện xạ của mình bắn rơi cái tẩu mà người nông dân đang hút. B nhất trí nhưng với điều kiện V phải để cho B dùng vai minh làm bệ ti súng. V đồng ý, B ngắm tấu bóp cò, kết qua không trúng tdu mà lại trúng đầu làm người nông dân chết.
Với ví dụ này, Giáo sư A. Tơrainhin cho rằng ba người thợ săn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì đồng phạm tội vô ý làm chết người, trong đó A có hành vi vô ý xúi giục, V có hành vi vô ý giúp sức và B có hành vi vô ý làm chết người [54, 111]. Chúng tôi không đồng ý với quan điểm này của Giáo sư A. Tơrainhin vì trong trường hợp này A, B, V đồng phạm tội giết người với lỗi cố ý gián tiếp.