Tổng quan luận án

Công trình "Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam" là luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Quang Tiệp, được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Sơn và TS. Nguyễn Văn Hiện, hoàn thành vào năm 2000. Luận án thuộc chuyên ngành Luật hình sự, luật tố tụng hình sự và tội phạm.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tiễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12-1986). Bên cạnh những thành tựu kinh tế - xã hội, tình hình tội phạm nói chung và các tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm nói riêng có xu hướng gia tăng phức tạp, thâm nhập vào các cơ quan nhà nước ở nhiều cấp, nhiều ngành và các lĩnh vực quản lý. Các vụ án có đồng phạm chiếm tỷ lệ cao trong nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia (ANQG), tham nhũng, buôn lậu, cướp tài sản của công dân và gây rối trật tự công cộng. Về mặt tâm lý và xã hội, tội phạm có đồng phạm thể hiện sự tập trung sức lực, trí tuệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng gây ra thiệt hại nghiêm trọng, liên kết che giấu dấu vết và củng cố quyết tâm phạm tội cao hơn so với phạm tội riêng lẻ. Tuy nhiên, từ khi thi hành Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 (ngày 1-1-1986), thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng, mắc sai sót do chưa có nhận thức thống nhất về bản chất pháp lý của chế định đồng phạm.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: trước thời điểm năm 2000, khoa học luật hình sự Việt Nam chỉ có các công trình nghiên cứu từng khía cạnh riêng lẻ của đồng phạm, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống toàn bộ chế định này từ cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp, luật học so sánh đến thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện pháp luật.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ về mặt lý luận một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề về đồng phạm, góp phần giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự về đồng phạm trong thực tiễn và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Về mặt lý luận: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của chế định đồng phạm trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam; làm sáng tỏ bản chất pháp lý của chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam; so sánh với các quy phạm tương ứng trong luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới.
    2. Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự về đồng phạm trong thực tiễn xét xử; phân tích các vướng mắc, thiếu sót của thực tiễn xét xử để làm rõ cơ sở lý luận và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, bao gồm: khái niệm đồng phạm, khái niệm người đồng phạm, các loại người đồng phạm; các hình thức đồng phạm và cơ sở phân loại; trách nhiệm hình sự trong đồng phạm hoàn thành và chưa hoàn thành; tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm; và thực tiễn xét xử các vụ án có đồng phạm.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn dưới góc độ khoa học luật hình sự, kết hợp khảo sát thực tiễn xét xử thông qua mẫu nghiên cứu 500 vụ án hình sự do Tòa án nhân dân các cấp xét xử trong hai năm 1997 và 1998.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài:

Về nghiên cứu quốc tế:

  • Các nhà hình sự học Xô viết đã nghiên cứu chế định đồng phạm dưới nhiều góc độ: P. Tennốv nghiên cứu về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm; Ph. Burơtrắc nghiên cứu các vấn đề tội phạm học và xã hội học của đồng phạm; E. Kharsác nghiên cứu về đồng phạm đối với người chưa thành niên; A. Tơrainhin, M. Sargôrơtxki, M. Sơnhâyđơ và I. Malakhév nghiên cứu về cấu trúc lỗi, quan hệ nhân quả và tính chất nguy hiểm của đồng phạm.
  • Học giả Xônagiơ nghiên cứu về đồng phạm trong luật hình sự Tiệp Khắc.
  • Nhà hình sự học Lý Quang Xán nghiên cứu về đồng phạm trong luật hình sự Trung Quốc.
  • Nhà luật học người Pháp Giang Lacguyé (Jean Larguier) phân tích chế định đồng phạm trong sách Luật hình sự (1994).
  • Nhà tâm lý học Gordon Olport nghiên cứu về tâm lý nhóm và sự quyến rũ xã hội tác động đến hành vi cá nhân trong nhóm phạm tội.

Về nghiên cứu trong nước:

  • Luật gia Đặng Văn Doãn với công trình chuyên khảo "Vấn đề đồng phạm" (Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1986).
  • TS. Lê Thị Sơn với các bài viết chuyên khảo: "Khái niệm người thực hiện tội phạm và khái niệm người đồng phạm" (Tạp chí Luật học, số 1/1995) và "Về các giai đoạn thực hiện hành vi đồng phạm" (Tạp chí Luật học, số 3/1998).
  • Các công trình chuyên khảo của các tác giả thuộc Trường Đại học Luật Hà Nội và Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật: "Một số hình thức đặc biệt của tội phạm" (trong sách Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 1995) và "Đồng phạm" (trong sách Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 1991).
  • TSKH. Lê Cảm với các công trình: "Về chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Tập san Tòa án nhân dân, số 2/1988); "Chế định đồng phạm" (trong sách Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền - Một số vấn đề cơ bản của Phần chung, Nxb Công an nhân dân, 1999); "Định tội danh đối với tội phạm có đồng phạm" (trong sách Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, tập I, Nxb Công an nhân dân, 1999).
  • TS. Võ Khánh Vĩnh với công trình "Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và đồng phạm" (trong sách Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 1995).

Vị trí của luận án: Tác giả khẳng định các công trình trong nước nêu trên mới chỉ tiếp cận từng khía cạnh cụ thể hoặc từng nhóm vấn đề riêng biệt. Luận án của Trần Quang Tiệp là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học luật hình sự Việt Nam nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về chế định đồng phạm cả về phương diện lý luận lập pháp lẫn thực tiễn xét xử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước, pháp luật, tội phạm và hình phạt; cùng các thành tựu của triết học, khoa học luật hình sự, lôgíc học và lịch sử các học thuyết chính trị - pháp lý.

Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Các văn bản quy phạm pháp luật trong lịch sử Việt Nam: Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long), Hoàng Việt hình luật năm 1933; các Sắc lệnh sau Cách mạng Tháng Tám (Sắc lệnh số 27-SL ngày 28-2-1946, Sắc lệnh số 223 ngày 17-11-1946, Sắc lệnh số 133-SL ngày 20-1-1953, Sắc lệnh số 267-SL ngày 15-6-1956); các Pháp lệnh năm 1967, 1970; BLHS năm 1985 (và các luật sửa đổi, bổ sung các năm 1989, 1991, 1992, 1997) và BLHS năm 1999.
  • Các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự, báo cáo tổng kết ngành của Tòa án nhân dân tối cao (như Báo cáo tổng kết công tác năm 1963).
  • Các bản án, quyết định hình sự sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp (như Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh, TAND TP. Hà Nội, TAND TP. Hải Phòng, TAND tỉnh Yên Bái, TAND tỉnh Đắk Lắk, Tòa án quân sự Quân khu V...).
  • Các văn bản pháp luật hình sự nước ngoài: BLHS Liên bang Nga năm 1995 (và BLHS Cộng hòa XHCN Xô viết Liên bang Nga trước đây), BLHS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 và sửa đổi năm 1997, BLHS Cộng hòa Liên bang Đức, BLHS Cộng hòa Pháp, BLHS Vương quốc Thụy Điển, BLHS Vương quốc Bỉ, BLHS Vương quốc Nhật Bản, cùng các quy định pháp luật của Vương quốc Anh và Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ.

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử: Phân tích sự tiến triển của các quy phạm về đồng phạm qua các thời kỳ lập pháp của Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các yếu tố cấu thành khách quan, chủ quan, trách nhiệm hình sự và quy tắc xử lý trong đồng phạm.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình sự các nước thuộc hệ thống XHCN, hệ thống luật lục địa (Continental Law) và hệ thống luật Ánglô - Săcxông (Common Law).
  • Phương pháp lôgíc: Đánh giá tính chuẩn xác của các định nghĩa pháp lý và cấu trúc quy phạm.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và thống kê: Khảo sát ngẫu nhiên 500 bản án hình sự của Tòa án các cấp trong hai năm 1997 - 1998 để lượng hóa các đặc trưng thực tiễn của tội phạm có đồng phạm.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có dung lượng 173 trang (chưa tính mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục), kết cấu thành 3 chương với 8 mục.

Chương 1: Khái niệm đồng phạm và các loại người đồng phạm

Chương 1 (từ trang 11 đến trang 67) tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng về khái niệm đồng phạm, ý nghĩa của khái niệm và phân loại người đồng phạm:

  1. Quá trình phát triển lập pháp: Luận án phân tích sự phát triển của chế định đồng phạm từ Quốc triều hình luật (các Điều 35, 36, 116, 411, 412, 454, 469, 539 thể hiện nguyên tắc trừng trị: "Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc"), Hoàng Việt luật lệ (Điều 29), Hoàng Việt hình luật 1933 (Chương IX chia chánh yếu phạm và tùng phạm), các Sắc lệnh sau 1945 đến Điều 17 BLHS 1985 ("Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm") và Điều 20 BLHS 1999.

  2. Phân tích các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm:

  • Về mặt khách quan: Đòi hỏi từ hai người trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Luận án nhấn mạnh nếu chỉ có một người thỏa mãn chủ thể thì không có đồng phạm; nếu có từ hai người thỏa mãn chủ thể và có người chưa đủ điều kiện thì chỉ những người đủ điều kiện mới là người đồng phạm. Về hành vi, đòi hỏi phải cùng tham gia thực hiện tội phạm thông qua ít nhất một trong bốn loại hành vi: thực hành, tổ chức, xúi giục, giúp sức. Hành vi của mỗi người là một mắt xích có mối quan hệ nhân quả trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hậu quả chung. Luận án phân định thời điểm tội phạm hoàn thành (thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm) với tội phạm kết thúc (chấm dứt trên thực tế), khẳng định hành vi đồng phạm mới vẫn có thể xuất hiện trong giai đoạn tội phạm đã hoàn thành nhưng chưa kết thúc trên thực tế.
  • Về mặt chủ quan: Đòi hỏi sự "cùng cố ý" tạo nên liên kết tâm lý hai chiều giữa những người tham gia. Về lý trí, mỗi người nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi mình, nhận thức được người khác cùng thực hiện với mình và thấy trước hậu quả. Về ý chí, cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Tác giả luận án bác bỏ quan điểm của A. Tơrainhin, M. Sargôrơtxki và quan điểm của luật hình sự tư sản (như Thụy Điển, Pháp) về việc thừa nhận "đồng phạm do vô ý", khẳng định tội phạm vô ý là sự cộng dồn cơ học, không có sự liên kết thống nhất về mặt chủ quan. Luận án cũng bác bỏ quan điểm của Ph. Burơtrắc về "đồng phạm một chiều" (như xúi giục, giúp sức bí mật), chỉ rõ trường hợp này người thực hiện phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi xúi giục hoặc giúp sức.
  • Đối với các tội phạm có mục đích hoặc động cơ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm (như mục đích chống chính quyền nhân dân trong tội xâm phạm ANQG, hoặc động cơ vụ lợi), những người đồng phạm bắt buộc phải có cùng mục đích hoặc cùng tiếp nhận mục đích/động cơ đó.
  1. Số liệu khảo sát thực tiễn từ 500 vụ án hình sự (1997 - 1998):
Chỉ số khảo sát Số lượng / Cơ cấu Tỷ lệ (%)
Phân loại vụ án (N = 500)
- Vụ án phạm tội riêng lẻ 293 vụ 58,60%
- Vụ án có nhiều người tham gia có đồng phạm 181 vụ 36,20%
- Vụ án có nhiều người tham gia không có đồng phạm 26 vụ 5,20%
Tỷ lệ đồng phạm theo nhóm tội phạm (trong 181 vụ)
- Tội cướp tài sản của công dân - 70,30%
- Nhóm tội xâm phạm ANQG - 62,90%
- Tội gây rối trật tự công cộng - 57,50%
- Nhóm tội phạm về tham nhũng - 52,10%
- Nhóm tội phạm về ma túy - 21,50%
Hình thức lỗi trong đồng phạm (trong 181 vụ)
- Cố ý trực tiếp - 99,45%
- Cố ý gián tiếp - 0,55%
Động cơ của người đồng phạm (N = 638 người)
- Động cơ vụ lợi 432 người 66,30%
- Động cơ lưu manh 97 người 15,20%
- Động cơ tư thù 69 người 10,80%
- Động cơ thỏa mãn dục vọng 29 người 4,50%
- Động cơ khác (hưởng lạc, hiếu kỳ...) 18 người 2,90%
- Động cơ che giấu tội phạm khác 2 người 0,30%
Phân loại người đồng phạm (N = 638 người)
- Người thực hành đơn thuần 492 người 77,20%
- Người tổ chức, xúi giục, giúp sức (tổng số) 146 người 22,80%
* Trong đó: người tổ chức/xúi giục kiêm người thực hành 98 người 15,30%
* Trong đó: người tổ chức/xúi giục/giúp sức thuần túy 48 người 7,50%
  1. Khái niệm và phân loại các loại người đồng phạm:
  • Luận án chỉ ra lỗi lôgíc hình thức trong BLHS Liên bang Nga 1995 và khoản 2 Điều 20 BLHS Việt Nam 1999 khi dùng các khái niệm bộ phận chưa xác định (người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức) để định nghĩa khái niệm chung (người đồng phạm).
  • Luận án xây dựng khái niệm chung: "Người thực hiện tội phạm là người trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm hoặc thực hiện tội phạm bằng cách sử dụng người khác mà người này không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với mình". Từ đó định nghĩa: "Người thực hành là người đồng phạm thỏa mãn những dấu hiệu của người thực hiện tội phạm".
  • Người thực hành tồn tại ở hai dạng: Dạng 1 là tự mình thực hiện hành vi khách quan (chiếm 100% người thực hành trong mẫu khảo sát 181 vụ án); Dạng 2 là thực hiện tội phạm gián tiếp thông qua việc sử dụng người không có năng lực trách nhiệm hình sự, người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người bị cưỡng bức, người sai lầm không có lỗi, hoặc cấp dưới chấp hành mệnh lệnh không biết tính bất hợp pháp.
  • Luận án cũng phân tích đặc điểm pháp lý của người tổ chức (chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy), người xúi giục (kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác phạm tội) và người giúp sức (tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần).

Chương 2: Các hình thức đồng phạm

Chương 2 (từ trang 68 đến trang 113) phân tích cơ sở phân loại và nội dung cụ thể của các hình thức đồng phạm:

  1. Cơ sở phân loại: Luận án phân loại các hình thức đồng phạm dựa trên hai tiêu chí khoa học cơ bản:
  • Dựa vào sự phân công vai trò giữa những người đồng phạm: Chia thành đồng phạm giản đơn (tất cả những người tham gia đều là người đồng thực hành) và đồng phạm phức tạp (trong vụ án có sự phân hóa vai trò: bên cạnh người thực hành có người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức).
  • Dựa vào tính chất liên kết chủ quan và sự thỏa thuận từ trước: Chia thành đồng phạm không có thông mưu trước (sự phối hợp hành vi diễn ra tức thời, không có sự bàn bạc trước), đồng phạm có thông mưu trước (có sự bàn bạc, thống nhất từ trước về kế hoạch, thủ đoạn phạm tội), đồng phạm có sự thông đồng với người khác, phạm tội có tổ chức và tổ chức phạm tội.
  1. Phạm tội có tổ chức và tổ chức phạm tội:
  • Phạm tội có tổ chức: Là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Luận án phân tích dấu hiệu "câu kết chặt chẽ" thể hiện ở tính kiên định, sự phân công nhiệm vụ chi tiết, có kẻ cầm đầu chỉ huy và kế hoạch phạm tội tinh vi. Trong BLHS năm 1999, tình tiết này được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 48 và là tình tiết định khung tăng nặng trong 76 điều luật.
  • Tổ chức phạm tội: Luận án phân biệt hình thức phạm tội có tổ chức với "tổ chức phạm tội" - loại cấu thành tội phạm độc lập đặc biệt nguy hiểm (như các tổ chức phản cách mạng, tổ chức tội phạm có vũ trang), trong đó việc thành lập hoặc tham gia tổ chức đã cấu thành tội phạm độc lập mà không cần chờ đến khi các thành viên thực hiện tội phạm cụ thể.

Chương 3: Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm

Chương 3 (từ trang 114 đến trang 169) giải quyết toàn diện các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự đối với các dạng đồng phạm và từng loại người tham gia:

  1. Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm hoàn thành: Luận án luận chứng ba nguyên tắc cơ bản:
  • Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm: Tất cả những người đồng phạm đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo cùng một tội danh, cùng một điều luật của Phần các tội phạm và trong phạm vi hậu quả chung do hoạt động phạm tội chung gây ra.
  • Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tham gia: Mỗi người đồng phạm phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của chính mình, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ có tính chất cá nhân (như tái phạm, nhân thân, thái độ khai báo) chỉ áp dụng riêng cho người đó; đồng thời giải quyết vấn đề hành vi vượt quá của người thực hành (người xúi giục, tổ chức, giúp sức không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người thực hành).
  • Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự: Tòa án khi quyết định hình phạt phải xem xét mức độ tham gia, tính chất vai trò của từng loại người đồng phạm trong việc thực hiện tội phạm chung.
  1. Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm chưa hoàn thành: Luận án phân tích quy tắc định tội và lượng hình đối với từng loại người đồng phạm qua các giai đoạn:
  • Trách nhiệm hình sự đối với người thực hành trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.
  • Trách nhiệm hình sự đối với người xúi giục: Luận án giải quyết trường hợp xúi giục chưa đạt (người bị xúi giục không tiếp nhận hoặc tiếp nhận nhưng chưa thực hiện tội phạm) thì người xúi giục vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi chuẩn bị phạm tội của mình.
  • Trách nhiệm hình sự đối với người giúp sức và người tổ chức trong các giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc người thực hành không thực hiện được tội phạm vì nguyên nhân ngoài ý muốn.
  1. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm: Luận án xác định các điều kiện và cơ chế miễn trách nhiệm hình sự đối với từng chủ thể:
  • Đối với người thực hành: Tự mình từ bỏ dứt khoát việc thực hiện tội phạm trước khi tội phạm hoàn thành.
  • Đối với người xúi giục: Phải có hành vi triệt tiêu tác động tâm lý do lời xúi giục gây ra hoặc ngăn chặn người thực hành thực hiện tội phạm một cách có hiệu quả.
  • Đối với người giúp sức: Phải thu hồi hoặc vô hiệu hóa các công cụ, phương tiện, điều kiện vật chất/tinh thần đã cung cấp cho người thực hành trước khi hành vi phạm tội bắt đầu.
  • Đối với người tổ chức: Phải có hành vi tích cực hủy bỏ kế hoạch, giải tán tổ chức hoặc ngăn chặn thành công không để các thành viên khác thực hiện tội phạm.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

  1. Về mặt lý luận:
  • Lần đầu tiên hệ thống hóa và làm sáng tỏ sự hình thành, phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về chế định đồng phạm qua các thời kỳ lịch sử.
  • So sánh, đối chiếu quy định về đồng phạm của luật hình sự Việt Nam với luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới (Nga, Trung Quốc, Pháp, Đức, Thụy Điển, Bỉ, Anh...), chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt và tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm lập pháp quốc tế.
  • Giải quyết thấu đáo các vấn đề lý luận phức tạp: khẳng định bản chất "cùng cố ý" là liên kết tâm lý hai chiều; bác bỏ quan điểm thừa nhận đồng phạm do lỗi vô ý và đồng phạm một chiều; phân định ranh giới giữa tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc trong việc xác định thời điểm phát sinh hành vi đồng phạm mới; phân biệt khái niệm "người thực hiện tội phạm" và "người thực hành trong đồng phạm".
  • Luận chứng hệ thống các nguyên tắc định tội danh, quyết định hình phạt và điều kiện tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đối với từng loại người đồng phạm trong các giai đoạn thực hiện tội phạm.
  1. Về mặt thực tiễn và hoàn thiện pháp luật:
  • Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật qua mẫu khảo sát 500 vụ án; chỉ rõ các sai sót phổ biến của Tòa án (dùng sai thuật ngữ "cộng phạm", "tòng phạm" chiếm 2,73%; nhận thức sai dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc kết tội oan; nhầm lẫn giữa người thực hành và người giúp sức).
  • Đưa ra các luận điểm khoa học và giải pháp lập pháp phục vụ trực tiếp cho quá trình soạn thảo, hoàn thiện Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999 (các kết quả nghiên cứu đã được tác giả công bố trên Tạp chí Công an nhân dân số 1/1997, Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/1998, số 1/1999 và số 4/1999).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế: Do phạm vi nghiên cứu của một luận án tiến sĩ chuyên khảo thuộc Phần chung luật hình sự, công trình tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng và nguyên tắc chung của chế định đồng phạm. Mẫu số liệu khảo sát thực tiễn tập trung trong giai đoạn 1997 - 1998 dưới hiệu lực của BLHS năm 1985 (sửa đổi), thời điểm đất nước đang bước đầu vận hành theo cơ chế thị trường và chuẩn bị ban hành BLHS năm 1999.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ phạm vi đề tài bao gồm việc tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định mới của BLHS năm 1999 về đồng phạm và phạm tội có tổ chức; nghiên cứu chuyên sâu về đồng phạm trong các cấu thành tội phạm cụ thể ở Phần các tội phạm; cũng như nghiên cứu tâm lý học tội phạm nhóm và tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Cung cấp khung lý luận hoàn chỉnh, tài liệu lịch sử lập pháp và phương pháp so sánh luật học đối với chế định đồng phạm; chương 1 và chương 3 là nguồn tư liệu hữu ích cho việc giảng dạy và nghiên cứu Phần chung luật hình sự.
  • Đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và Luật sư: Hỗ trợ nhận thức chính xác dấu hiệu pháp lý để định tội danh, phân loại đúng tư cách người đồng phạm (đặc biệt là phân biệt giữa người thực hành và người giúp sức), xác định chính xác trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm tội chưa đạt và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tham mưu chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để tiếp tục rà soát, giải thích áp dụng pháp luật và hoàn thiện các quy phạm của Bộ luật Hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án phản bác quan điểm thừa nhận "đồng phạm do lỗi vô ý" của một số học giả bằng những luận cứ nào? Tác giả luận án căn cứ vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin coi tội phạm là thể thống nhất giữa yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, hành vi vô ý của nhiều người chỉ là sự kết hợp cơ học, không có sự liên kết hữu cơ đan xen tạo tiền đề cho nhau. Về chủ quan, người phạm tội vô ý không có ý thức lựa chọn hành vi phạm tội và không có sự liên kết tâm lý hai chiều, không nhận thức và không mong muốn sự cố ý của người khác. Do đó, quy kết đồng phạm trong tội vô ý là biểu hiện của việc quy tội khách quan.

2. Người thực hành trong đồng phạm được luận án phân chia thành những dạng nào? Luận án phân chia người thực hành thành hai dạng:

  • Dạng 1: Tự mình thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm (chiếm toàn bộ 100% người thực hành trong mẫu 181 vụ án khảo sát).
  • Dạng 2: Không tự mình thực hiện hành vi mà thực hiện tội phạm bằng cách sử dụng hoặc lợi dụng người khác không phải chịu trách nhiệm hình sự (do chưa đủ tuổi, mất năng lực hành vi, không có lỗi, sai lầm, bị cưỡng bức không có tự do ý chí, hoặc thi hành mệnh lệnh trái pháp luật mà không biết).

3. Khảo sát 500 vụ án của luận án cho thấy tỷ lệ các vụ án có đồng phạm chiếm bao nhiêu phần trăm? Trong 500 vụ án hình sự xét xử năm 1997 - 1998, có 293 vụ án phạm tội riêng lẻ (chiếm 58,6%), 207 vụ án có nhiều người tham gia, trong đó có 181 vụ án có đồng phạm (chiếm 36,2%) và 26 vụ án có nhiều người tham gia nhưng không có đồng phạm (chiếm 5,2%). Số liệu này phù hợp với tổng kết của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (tỷ lệ đồng phạm chiếm khoảng 35 - 37%).

4. Luận án chỉ ra lỗi lôgíc nào trong định nghĩa người đồng phạm của BLHS năm 1999 và BLHS Liên bang Nga? Khoản 2 Điều 20 BLHS 1999 và BLHS Nga năm 1995 quy định "Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm". Tác giả chỉ rõ quy định này vi phạm quy tắc lôgíc hình thức vì đã dùng những khái niệm bộ phận chưa được xác định để định nghĩa cho một khái niệm chung chưa biết là "người đồng phạm". Luận án đề xuất phải xây dựng khái niệm chung về "người thực hiện tội phạm" trước, sau đó mới xác định người thực hành và các loại người đồng phạm khác.

5. Điều kiện để người xúi giục được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là gì? Người xúi giục muốn được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì không chỉ dừng lại ở việc bản thân không tiếp tục xúi giục, mà bắt buộc phải có hành vi tích cực nhằm triệt tiêu hoàn toàn tác động tâm lý đã gây ra cho người bị xúi giục, hoặc phải có hành vi ngăn chặn thành công không để người thực hành thực hiện tội phạm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam" của Trần Quang Tiệp là công trình khoa học chuyên khảo nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam. Tác giả đã kết hợp phân tích lý luận, lịch sử lập pháp, luật học so sánh quốc tế với khảo sát định lượng 500 vụ án thực tiễn để làm sáng tỏ bản chất của sự cùng cố ý, phân loại người đồng phạm, xác định các hình thức đồng phạm và nguyên tắc quy kết trách nhiệm hình sự. Các kết luận khoa học của luận án đã góp phần cung cấp luận cứ cho quá trình xây dựng BLHS năm 1999 và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong công tác xét xử hình sự.