Tổng quan luận án
| Thuộc tính |
Thông tin chi tiết |
| Tên đề tài |
Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế |
| Tác giả |
Nguyễn Chí Công |
| Người hướng dẫn khoa học |
1. TS. Nguyễn Ngọc Chí 2. TS. Trần Văn Độ |
| Cơ sở đào tạo |
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội |
| Chuyên ngành |
Luật hình sự và Tố tụng hình sự |
| Mã số chuyên ngành |
62 38 01 04 |
| Năm bảo vệ |
2017 |
| Dung lượng văn bản |
154 trang nội dung chính (chưa bao gồm phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo) |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong quản lý nhà nước, pháp luật hình sự giữ vị trí là công cụ pháp lý và là "chốt chặn cuối cùng" nhằm duy trì sự ổn định của chính sách kinh tế vĩ mô, bảo đảm nền kinh tế phát triển đúng mục tiêu và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2000) qua gần 17 năm thi hành đã tạo cơ sở pháp lý để kiểm soát tội phạm kinh tế. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các quy định của BLHS năm 1999 về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (XPTTQLKT) dù đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhưng vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập.
Thực tế giai đoạn 2011–2015 ghi nhận nhiều vụ án kinh tế lớn xảy ra, gây thiệt hại nghiêm trọng hàng trăm đến hàng nghìn tỷ đồng. Các công trình khoa học trước đây thường tập trung nghiên cứu riêng lẻ từng tội danh cụ thể hoặc tiếp cận dưới góc độ tội phạm học, kỹ năng tố tụng. Việc nghiên cứu một cách tổng thể, có hệ thống về chế định trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với toàn bộ nhóm tội XPTTQLKT dưới góc độ lý luận luật hình sự gắn liền với việc đánh giá thực tiễn áp dụng còn thiếu vắng. Do đó, luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống lý luận và đưa ra giải pháp bảo đảm chất lượng áp dụng TNHS đối với nhóm tội danh này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là đề xuất các yêu cầu và giải pháp bảo đảm chất lượng áp dụng TNHS đối với các tội XPTTQLKT, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, xử lý tội phạm trong tình hình kinh tế - xã hội hiện nay.
Để đạt được mục tiêu đó, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích, làm sáng tỏ nội dung lý luận về TNHS (khái niệm, cơ sở, đặc điểm, hình thức của TNHS) làm nền tảng xác định đặc điểm TNHS của các tội XPTTQLKT.
- Nghiên cứu một cách toàn diện các quy định pháp luật hình sự về áp dụng TNHS đối với các tội XPTTQLKT, đánh giá mức độ tương thích giữa quy định thực định và yêu cầu lý luận.
- Khái quát và đánh giá thực tiễn áp dụng TNHS đối với các tội XPTTQLKT tại Việt Nam giai đoạn 2005–2015; chỉ ra ưu điểm, hạn chế, sai lầm và nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động áp dụng pháp luật.
- Xây dựng hệ thống quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng áp dụng TNHS đối với các tội XPTTQLKT trong thực tiễn tư pháp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn quy định, áp dụng TNHS đối với các tội XPTTQLKT trong pháp luật hình sự Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Luật hình sự (chủ yếu là Luật hình sự Việt Nam theo BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 và có đối chiếu với BLHS năm 2015).
- Về không gian và thời gian: Dữ liệu và thực tiễn áp dụng pháp luật được khảo sát trên phạm vi cả nước trong mốc thời gian từ năm 2005 đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung cụ thể:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Các hướng nghiên cứu trong nước đã công bố
-
Các nghiên cứu về sự cần thiết và đặc điểm pháp lý chung của các tội XPTTQLKT:
- Sách chuyên khảo và tham khảo: Mai Bộ và Nguyễn Văn Duyên (2002), Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Bộ luật hình sự, Nxb Thống kê; Nguyễn Quốc Nhật (2003), Tìm hiểu các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Nxb Lao động; Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2004), Chuyên đề Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế - Một số vướng mắc và hướng hoàn thiện; Nguyễn Mai Bộ (2006), Pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Nxb Tư pháp; Đinh Văn Quế (2001, 2003), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm), Nxb Công an nhân dân và Nxb TP. Hồ Chí Minh.
- Bài viết tạp chí: Đỗ Đức Hồng Hà (2000, 2010), Lê Thị Sơn (2000, 2010), Trần Văn Độ (2000) trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
- Hệ thống giáo trình của Khoa Luật – ĐHQGHN (2003), Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2012).
-
Các nghiên cứu chuyên sâu về từng tội danh hoặc lĩnh vực cụ thể:
- Luận án tiến sĩ: Trần Mạnh Đạt (2003), Tội kinh doanh trái phép trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam; Bùi Minh Thanh (2003), Vi phạm pháp luật và đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay; Nguyễn Văn Nam (2008), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Luật hình sự Việt Nam; Nguyễn Thị Thu Hương (2011), Tội phạm hóa - phi tội phạm hóa, hình sự hóa - phi hình sự hóa những hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam; Phan Anh Tuấn (2013), Tội phạm hóa các hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Bài báo khoa học của Trần Mạnh Đạt (2002, 2005), Trần Ngọc Việt (2001), Mai Bộ (2001, 2004, 2006), Đinh Văn Quế (2004, 2009), Trần Đại Thắng (2006), Nguyễn Văn Trượng (2008), Nguyễn Văn Vân (2001), Phạm Hồng Hải (2004), Hoàng Thị Quỳnh Chi (2006).
-
Các nghiên cứu mang tính định hướng lập pháp và TNHS của pháp nhân:
- Đề tài cấp bộ của Bộ Tư pháp (2010), Nghiên cứu so sánh cơ sở lí luận và thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức (PGS.TS. Trịnh Quốc Toản tham gia nghiên cứu); sách chuyên khảo của Trịnh Quốc Toản (2011), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự, Nxb Chính trị quốc gia.
- Các bài viết của Nguyễn Ngọc Chí (2008), Nguyễn Ngọc Hòa (2007, 2013), Hồ Sỹ Sơn (2008, 2010), Cao Thị Oanh (2013), Nguyễn Tất Thành (2013).
-
Các nghiên cứu ở khía cạnh tội phạm học và phòng ngừa:
- Các đề tài của Tổng cục Cảnh sát (1998, 2002), Viện Nghiên cứu Chiến lược – Bộ Công an (2001), GS.TS. Nguyễn Phùng Hồng và GS.TS. Hồ Trọng Ngũ.
- Sách tham khảo của Nguyễn Xuân Yêm (2001), Nguyễn Xuân Yêm và Nguyễn Hòa Bình (2003), Bùi Hữu Hùng và Trần Phàn (1993), Cáp Xuân Diệm và Lưu Vinh (1999), Lê Văn Tới (2000), Triệu Quốc Kế, Hoàng Trực và Nguyễn Đình (2003).
- Luận án của Trần Ngọc Việt (2001), Nguyễn Sinh Xô (2001), Nguyễn Phong Hòa (2003).
-
Các nghiên cứu về lý luận trách nhiệm hình sự:
- Giáo trình và chuyên khảo của Lê Cảm (2000, 2003), Nguyễn Ngọc Hòa (1997, 2001, 2006), Võ Khánh Vinh (2009), Nguyễn Văn Huyên (2011), Trịnh Tiến Việt (2005, 2009), Phạm Mạnh Hùng (2004), Cao Thị Oanh (2008).
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Luận án điểm lại các công trình nước ngoài tiêu biểu:
- J. Kelly Strader (2011), Understanding White Collar Crime (Nxb LexisNexis, tái bản lần 3): phân tích bản chất tội phạm cổ cồn trắng, tội phạm kinh doanh, TNHS của pháp nhân, các tội danh chứng khoán, thuế, ngân hàng theo luật pháp Hoa Kỳ.
- David O. Friedrichs (2010), Trusted Criminals – White Collar Crime in Contemporary Society (Nxb Wadsworth, tái bản lần 4): nghiên cứu tội phạm học và phân loại tội phạm nghề nghiệp, tội phạm doanh nghiệp, các chế tài kiểm soát xã hội.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả chỉ rõ:
- Các nghiên cứu quốc tế chủ yếu tiếp cận dưới góc độ tội phạm học, kinh tế học hoặc nghiên cứu tội phạm cổ cồn trắng, không có khái niệm đồng nhất hoàn toàn với "tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế" theo luật hình sự Việt Nam và thiếu các nghiên cứu so sánh tổng thể về TNHS đối với nhóm tội này.
- Ở trong nước, Luận án tiến sĩ năm 2008 của Nguyễn Văn Nam chỉ khảo sát thực tiễn giai đoạn 2000–2006, thiên về lý luận chung, chưa phân tích đầy đủ vai trò thúc đẩy nền kinh tế của luật hình sự và thiếu tính cập nhật thực tiễn của giai đoạn kinh tế thị trường phát triển phức tạp sau đó.
- Các công trình khác chỉ nghiên cứu từng tội danh đơn lẻ hoặc giải quyết vấn đề dưới góc độ lập pháp (tội phạm hóa/phi tội phạm hóa) mà chưa nghiên cứu tổng thể, có hệ thống về chế định TNHS đối với các tội XPTTQLKT gắn với đánh giá toàn diện chất lượng áp dụng thực tiễn trong giai đoạn 2005–2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung khái niệm
- Nền tảng tư tưởng: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị.
- Khung lý thuyết chuyên ngành: Tiếp thu các thành tựu của khoa học pháp lý, bao gồm Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự và Tội phạm học.
- Khung phân tích khái niệm:
- Tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.
- Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Là nghĩa vụ của người phạm tội phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi quy định trong luật hình sự do việc đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, thể hiện trong sự tác động mang tính cưỡng chế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích: Sử dụng để mổ xẻ các yếu tố cấu thành tội phạm, nội dung các quy phạm pháp luật hình sự thực định, các biểu hiện của TNHS và các nhóm giải pháp.
- Phương pháp tổng hợp: Sử dụng để khái quát hóa các quan điểm lý luận khoa học, xây dựng định nghĩa và hệ thống hóa các đặc điểm pháp lý.
- Phương pháp thống kê và nghiên cứu vụ việc điển hình: Áp dụng trong việc thu thập, xử lý dữ liệu xét xử thực tế của Tòa án nhân dân các cấp đối với các tội XPTTQLKT giai đoạn 2005–2015, phân tích các đại án kinh tế điển hình.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua các giai đoạn (1945–1985, 1985–1999, 1999–2015) và so sánh có chọn lọc với quy định của một số quốc gia.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản pháp luật: BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLHS năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự, các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp.
- Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm của TAND tối cao từ năm 2005 đến năm 2015, số liệu thống kê tội phạm, bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm về các vụ án kinh tế.
- Tài liệu học thuật: Sách giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành luật và các luận án tiến sĩ liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong nước và nước ngoài theo 5 hướng tiếp cận trong nước và 2 nhóm vấn đề quốc tế. Tác giả chỉ ra rằng mặc dù số lượng công trình nghiên cứu về tội phạm kinh tế tương đối phong phú, nhưng phần lớn mang tính tản mạn, chỉ phân tích cấu thành của từng tội danh riêng lẻ hoặc tiếp cận dưới góc độ tội phạm học và kỹ năng điều tra, xét xử.
Chương này xác lập luận điểm: Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ về chế định TNHS đối với toàn bộ nhóm tội XPTTQLKT dưới góc độ lý luận luật hình sự gắn với thực tiễn áp dụng trong giai đoạn kinh tế thị trường phát triển nóng (2005–2015). Kết luận chương 1 khẳng định sự cần thiết phải thực hiện đề tài nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng:
- Xây dựng khái niệm: Luận giải sự khác biệt giữa khái niệm rộng "tội phạm kinh tế" và khái niệm hẹp "các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế" (nhóm tội phạm quy định tại Chương XVI BLHS năm 1999). Đưa ra định nghĩa khoa học về tội XPTTQLKT và TNHS đối với nhóm tội này.
- Phân tích đặc điểm TNHS: Xác định TNHS đối với các tội XPTTQLKT là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất; là hậu quả pháp lý bất lợi gắn liền với việc áp dụng hình phạt và các biện pháp tư pháp; phản ánh quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước (chủ thể thực hiện việc truy cứu) và người phạm tội (chủ thể gánh chịu hậu quả bất lợi).
- Cơ sở và sự cần thiết: Khẳng định việc quy định TNHS đối với nhóm tội này xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quan hệ sản xuất, lưu thông, phân phối, bảo vệ lợi ích công cộng và bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch; luật hình sự đóng vai trò là "chốt chặn cuối cùng" bảo vệ nền kinh tế.
- Lịch sử lập pháp: Khái quát quá trình phát triển các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm kinh tế qua hai giai đoạn lịch sử: từ năm 1945 đến năm 1985 (các sắc lệnh, sắc luật và thông tư thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung) và từ năm 1985 đến năm 1999 (BLHS năm 1985 đánh dấu bước chuyển sang thời kỳ Đổi mới).
Chương 3: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và thực tiễn áp dụng
Nội dung chương 3 đi sâu vào phân tích pháp luật thực định và thực tiễn tư pháp:
- Phân tích quy định BLHS năm 1999: Rà soát cơ sở của TNHS (hành vi nguy hiểm thỏa mãn cấu thành tội phạm) và các hình thức TNHS (hệ thống hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với nhóm tội XPTTQLKT).
- Đánh giá thực tiễn áp dụng (2005–2015): Khái quát diễn biến tình hình tội phạm XPTTQLKT với xu hướng gia tăng về quy mô, mức độ thiệt hại và tính chất tinh vi; phân tích thực tiễn định danh tội phạm, quyết định hình phạt và áp dụng biện pháp tư pháp của Tòa án nhân dân các cấp.
- Chỉ ra hạn chế và nguyên nhân:
- Hạn chế: Tình trạng áp dụng pháp luật chưa thống nhất giữa các địa phương; việc áp dụng hình phạt tiền và hình phạt bổ sung chưa tương xứng với tính chất tư lợi của tội phạm kinh tế; tỷ lệ thu hồi tài sản bị thất thoát còn thấp; còn hiện tượng bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý chưa đúng tội danh.
- Nguyên nhân: Do quy định của BLHS năm 1999 còn nhiều điểm bất cập, mâu thuẫn, sử dụng nhiều khái niệm trừu tượng (như "hậu quả nghiêm trọng", "số lượng lớn") chậm được hướng dẫn thi hành; năng lực, trình độ chuyên môn và tính liêm chính của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành và cơ quan tư pháp chưa đồng bộ.
Chương 4: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm chất lượng áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương 4 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp:
- Hệ thống các yêu cầu bảo đảm chất lượng áp dụng:
- Đáp ứng đòi hỏi phát triển lành mạnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đáp ứng yêu cầu của trật tự quản lý kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế (WTO, các hiệp định thương mại tự do) và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm kinh tế.
- Bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, tránh hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự.
- Hệ thống các nhóm giải pháp đồng bộ:
- Giải pháp 1: Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định về TNHS đối với các tội XPTTQLKT trong pháp luật hình sự (nội luật hóa các cam kết quốc tế, cụ thể hóa các tình tiết định lượng, quy định rõ ràng trách nhiệm của pháp nhân thương mại).
- Giải pháp 2: Tăng cường công tác giải thích, ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn xét xử và phát triển án lệ về tội phạm kinh tế.
- Giải pháp 3: Tăng cường công tác giám đốc, kiểm tra nghiệp vụ xét xử của TAND tối cao và TAND cấp cao nhằm kịp thời phát hiện, khắc phục các sai phạm.
- Giải pháp 4: Đổi mới công tác tổ chức thực hiện, tập huấn nghiệp vụ, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật kinh tế - hình sự cho doanh nghiệp và người dân.
- Giải pháp 5: Nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức công vụ của đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trong xử lý các vụ án kinh tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã tiếp cận một cách tổng thể và có hệ thống đối với chế định TNHS trong mối quan hệ gắn kết với nhóm tội XPTTQLKT, làm rõ sự tương tác giữa lý luận chung về TNHS (cái chung) và đặc thù TNHS trong lĩnh vực kinh tế (cái riêng).
- Xây dựng định nghĩa hoàn chỉnh về "các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế" và "trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế", đồng thời phân tích rõ cơ sở lý luận, bản chất pháp lý và vai trò bảo vệ, thúc đẩy nền kinh tế của luật hình sự.
- Luận giải cơ sở khoa học của việc sử dụng chế tài hình sự như "chốt chặn cuối cùng", góp phần hoàn thiện lý luận phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt trong lĩnh vực tư pháp hình sự kinh tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phác họa bức tranh toàn cảnh, chân thực về thực trạng quy định và áp dụng TNHS đối với các tội XPTTQLKT tại Việt Nam trong giai đoạn 10 năm (2005–2015).
- Đánh giá khách quan chất lượng áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ rõ các sai lầm phổ biến trong định tội danh, lượng hình và nguyên nhân gốc rễ dẫn đến hạn chế.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp toàn diện, có tính ứng dụng trực tiếp cho công tác lập pháp, giải thích pháp luật, xét xử và đào tạo cán bộ tư pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Dữ liệu thực tiễn và phạm vi khảo sát của luận án được khống chế trong giai đoạn 2005–2015, chủ yếu dựa trên nền tảng thực thi BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do đó, luận án chưa có điều kiện khảo sát thực tiễn áp dụng toàn diện các quy định mới của BLHS năm 2015 sau khi bộ luật này chính thức có hiệu lực thi hành trên thực tế.
- Luận án tập trung chuyên sâu dưới góc độ Luật hình sự nội dung, các khía cạnh tố tụng hình sự đặc thù trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ điện tử, tương trợ tư pháp quốc tế đối với tội phạm kinh tế chỉ được xem xét ở mức độ liên đới.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng toàn diện các quy định của BLHS năm 2015 đối với nhóm tội XPTTQLKT trong các giai đoạn tiếp theo.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế và thực tiễn áp dụng chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với các tội phạm kinh tế trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh tế số.
- Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án kinh tế thông qua các biện pháp tư pháp và hợp tác quốc tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và các cơ quan tư pháp trung ương (TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an): Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong hoạt động rà soát, hoàn thiện pháp luật hình sự, xây dựng các nghị quyết hướng dẫn thi hành và lựa chọn, phát triển án lệ về tội phạm kinh tế.
- Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và Luật sư: Cung cấp cơ sở lý luận và các phân tích thực tiễn phục vụ việc định tội danh chính xác, cá thể hóa hình phạt và nâng cao chất lượng tranh tụng, xét xử các vụ án kinh tế.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý: Là tài liệu tham khảo hữu ích cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự trong nghiên cứu, giảng dạy các học phần Luật hình sự Việt Nam (Phần chung và Phần các tội phạm).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đưa ra định nghĩa về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế như thế nào?
Theo tác giả, trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là nghĩa vụ của người phạm tội phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi quy định trong luật hình sự do việc đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, thể hiện trong sự tác động mang tính cưỡng chế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Sự khác biệt giữa khái niệm "tội phạm kinh tế" và "tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế" được xác định ra sao trong luận án?
Luận án chỉ ra rằng trước BLHS năm 1999, hai khái niệm này thường được dùng thay thế cho nhau. Từ khi BLHS năm 1999 ban hành, khái niệm "tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế" mang nghĩa hẹp hơn, chỉ bao gồm các tội danh được quy định tại Chương XVI của BLHS. Trong khi đó, khái niệm "tội phạm kinh tế" được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm cả tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về môi trường, tội phạm về chức vụ và tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất kinh tế.
3. Phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án được giới hạn trong giai đoạn nào?
Phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội XPTTQLKT trong luận án được xác định từ năm 2005 đến năm 2015, dựa trên số liệu tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân các cấp và các bản án thực tế.
4. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chủ yếu nào để bảo đảm chất lượng áp dụng trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội này?
Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp chính:
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội XPTTQLKT.
- Tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật; tổng kết thực tiễn xét xử và phát triển án lệ.
- Tăng cường công tác giám đốc, kiểm tra nghiệp vụ xét xử của TAND tối cao.
- Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, tập huấn nghiệp vụ và tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
- Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Chí Công là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về chế định trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp giữa phân tích lý luận pháp lý hình sự và khảo sát thực tiễn xét xử giai đoạn 2005–2015, luận án đã làm rõ bản chất, đặc điểm của TNHS trong lĩnh vực kinh tế và chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn tư pháp. Các yêu cầu và 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực vào công cuộc cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam.