Chương 1: Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 5 z Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 6 z Chƣơng 1: Khái quát về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 1. Khái niệm, bản chất, ý nghĩa và đặc điểm của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 1. Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thuộc chế định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một trong những chế định quan trọng của BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một chế định pháp lý tương đố i rô ̣ng và khá phức ta ̣p.
Trước khi đi sâu nghiên cứu nô ̣i dung chính về trá ch nhiê ̣m BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra thì viê ̣c tim ̀ hiể u khái niệm và một số đặc điểm cơ bản của trách nhiê ̣m BTTH ngoài h ợp đồng là r ất cầ n thi ết để thấy cái chung được bao hàm trong trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra. Trong xã hô ̣i , con người không thể xem nhẹ và có hành vi xâm pha ̣m đế n quyề n , lơ ̣i ić h chính đáng của những người khác khi thực hiện các quyền và lợi ích của mình. Ở Việt Nam, BTTH được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra [38]. Vì vậy, người nào có hành vi vi phạm , gây tổ n thấ t cho người khác thì pháp luật buộc người đó phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà họ đã gây ra.
Như vậy, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng mà trước đó giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có quan hệ hợp đồng hoặc không có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng. 7 z Nhà ở và các công trình kiến trúc dân sinh hay nghề nghiệp luôn là nhu cầu thiết yếu của con người trong xã hội. Bước sang thời kỳ đổi mới với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nhanh chóng, tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp. Đặc biệt ở các thành phố lớn, việc đầu tư xây dựng nhà ở, các công trình xây dựng rất được quan tâm.
Có thể thấy, nhà ở hay các công trình xây dựng đều là những tài sản có giá trị, mang lại cho con người những lợi ích sử dụng thiết thực, nhưng cũng là một trong những nguồn nguy hiểm có khả năng gây ra thiệt hại cho chính người sử dụng và những người xung quanh. Có nhiều khái niệm về nhà ở dựa vào từng góc độ nghiên cứu khác nhau. Ở góc độ xây dựng, nhà ở là sản phẩm của hoạt động xây dựng, không gian bên trong có kết cấu, tổ chức ngăn cách với không gian bên ngoài nhằm phục vụ nhu cầu ở cũng như sinh hoạt hàng ngày của con người. Ở góc độ quản lý kinh tế, nhà ở là tài sản có giá trị đặc biệt đối với đời sống con người, bảo vệ con người khỏi những hiện tượng tự nhiên, những sự cố bất thường như sóng thần, bão táp, mưa gió, lũ lụt,…Vì vậy, Điều 29, Luật xây dựng năm 2013 đưa ra khái niệm “Nhà ở riêng lẻ là công trình xây dựng trong khuôn viên đất ở thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật”.
Cho nên, nhà ở là một tài sản có giá trị, được xây dựng trên đất, gắn liền với đất và không di dời hay dịch chuyển được. Đối với công trình xây dựng, Điều 10, Luật xây dựng năm 2013 quy định: “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm: công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác” [28]. 8 z Ngoài ra, Điều 8, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Điều 5 Luật xây dựng năm 2014 quy định về phân cấp và phân loại công trình được xác định theo công năng sử dụng của tài sản, gồm [10], [28]: (i) Công trình dân dụng: bao gồm nhà ở (nhà chung cư, nhà ở tập thể, nhà ở riêng lẻ,…và công trình công cộng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cho cộng đồng dân cư như: công trình giáo dục, công trình y tế, thể thao, công tình văn hóa,… (ii) Công trình công nghiệp: Là những công trình gắn liền với ngành công nghiệp như công trình sản xuất vật liệu xây dựng, công trình luyện kim và cơ khí chế tạo, công trình khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công trình dầu khí, công trình năng lượng, công trình hóa chất… (iii) Công trình giao thông: Bao gồm công trình đường bộ, công trình thủy nội địa, công trình hàng hải và công trình hàng không.
(iv) Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn: Bao gồm công trình thủy lợi, công trình đê điều. (v) Công trình hạ tầng kỹ thuật: Gồm công trình cấp nước, thoát nước, công trình xử lý chất thải rắn, công trình thông tin, truyền thông, bãi đỗ xe ô tô, xe máy, công cáp, hào và tuy nen kỹ thuật. Cấp công trình được xác định theo từng loại công trình căn cứ vào quy mô, mục đích, tầm quan trọng, thời hạn sử dụng, vật liệu xây dựng và yêu cầu kỹ thuật xây dựng công trình, bao gồm: cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV và các cấp khác theo quy định của Chính Phủ. Theo tác giả, khái niệm công trình xây dựng còn mang tính chất thuật ngữ và chưa làm rõ được bản chất của công trình xây dựng là gì.
Đối với trường hợp dàn khoan, nhà hàng nổi, container cố định hoặc di động có được xem là công trình xây 9 z dựng hay không? Bản chất của các công trình này có kết cấu nhất định, có bánh xe và các bộ phận liên kết với nhau tạo thành một khối thống nhất, gắn liền với mặt đất hoặc mặt nước. Trường hợp, các công trình trên gây ra sự cố và gây thiệt hại cho con người liệu có phát sinh trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra. Hiện nay, pháp luật dân sự chưa đề cập đến những loại công trình trên là một thiếu sót. Pháp luật nước ta luôn đề cao , tôn tro ̣ng và bảo vê ̣ quyề n sở hữu , sử du ̣ng, đinh ̣ đoa ̣t tài sản của mo ̣i công dân trong xã hội mà trong đó nhà ở, công trình xây dựng là một loại tài sản thiết yếu có vị trí quan trọng.
Bởi thế, Điề u 32, Hiế n pháp nước Cô ̣ng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi nhâ ̣n : “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” [27]. Tuy nhiên, để bảo vệ cộng đồng và người thứ ba, pháp luật xác định trách nhiệm bồi thường khi người nào hoă ̣c tài sản của họ gây mô ṭ thiê ̣t ha ̣i nhấ t đinh ̣ cho người khác. Trong thực tiễn , không phải mo ̣i thiê ̣t ha ̣i xảy ra đều do hành vi hay do lỗi của con người, mà bản thân tài sản tự gây ra thiê ̣t ha ̣i cho những người xung quanh. Nói mô ̣t cách khác , xuấ t phát từ đă ̣c tính , cấ u ta ̣o của tài sản đó mà trong quá trình hoạt động, khai thác tự thân chúng gây ra những tai na ̣n, tổ n thấ t bấ t ngờ vươ ̣t tầm kiểm soát của con người như sụt lún , đỗ sâ ̣p , cây cố i đỗ gã y, súc vật cắn , húc…Vì vâ ̣y, ngoài trách nhiệm BTTH do hành vi của con người gây ra , pháp luật cũng quy đinh ̣ trách nhiê ̣m BTTH do tài sản gây ra.
Tuy nhiên, trong các BLDS trước đó như BLDS năm 2005 chưa đưa ra bấ t kỳ mô ̣t khái niê ̣m hay quy đ ịnh cụ thể nà o về trách n hiê ̣m BTTH do tài sản gây ra , mà mới chỉ dừng la ̣i ở viê ̣c đưa ra mô ̣t cách khái quát về trách nhiê ̣m BTTH trong mô ̣t số trường hơ ̣p cu ̣ thể , nhấ t đinh. ̣ Từ những quy đinh ̣ về trách nhiê ̣m BTTH ngoài hợp đồng , đố i chiế u với các trường hơ ̣p cu ̣ thể mà tài sản gây ra thiê ̣t ha ̣i , có thể hiểu : “Trách nhiê ̣m BTTH do tài sản gây ra là một loại trách nhiệm pháp lý mà theo đó , chủ sở hữu , người chiế m hữu , 10 z sử dụng để tài sản của mình gây ra t hiê ̣t hại; xâm phạm đế n quyề n và lợi ích hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ thì phải chịu trách nhiệm BTTH do tài sản đó gây ra”. Nhà cửa, công triǹ h xây dựng là bấ t đô ̣ng sản , có giá trị lớn. Hiê ̣n nay, diê ̣n tích đấ t ở các khu kinh tế tro ̣ng điể m chủ yế u đã chuyể n sang đấ t xây dựng các khu công nghiê ̣p, đô thi ̣và xây d ựng cơ sở hạ tầng .