Chương 1: Tổng quan về tra cứu ảnh theo nội dung. Chương 2: Các khái niệm cơ bản. Chương 3: Kỹ thuật tra cứu ảnh theo nội dung. Chương 4: Triển khai và thực nghiệm.
12 Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về tra cứu ảnh theo nội dung Tra cứu ảnh dựa theo nội dung (CBIR) có nguồn gốc từ năm 1992. Tra cứu ảnh theo nội dung là tra cứu thông tin trực quan (VIR - Visual Information Retrieval). Tra cứu thông tin trực quan là chủ đề nghiên cứu mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Tương tác với nội dung trực quan là cách thiết yếu nhất để tra cứu thông tin trực quan. Các yếu tố trực quan như màu sắc, kết cấu, hình dạng và bố cục không gian trực tiếp liên quan đến khía cạnh của cảm nhận nội dung ảnh, cùng với các khái niệm ở mức cao như ý nghĩa đối tượng, khung cảnh trong ảnh, được dùng như là manh mối cho tìm kiếm hình ảnh với nội dung tương tự từ cơ sở dữ liệu. Tra cứu thông tin, mô hình hóa và thể hiện dữ liệu trực quan, phân tích và xử lý phim ảnh, nhận dạng và thị giác máy tính (computer vision), tổ chức cơ sở dữ liệu đa phương tiện (multimedia), lập chỉ mục đa chiều, mô hình hóa tâm lí hành vi người dùng, hệ thống tương tác người - máy và trực quan hóa dữ liệu, là các lĩnh vực nghiên cứu quan trọng nhất đóng góp cho tra cứu thông tin trực quan. Các yếu tố mô tả nội dung có liên quan đến các đặc trưng cảm nhận như màu sắc, kết cấu, hình dạng, mối liên hệ về không gian chuyển động.
Các yếu tố cơ sở nguồn gốc của màu sắc như đối tượng, vai trò, sự kiên, hay các thông tin có liên hệ với màu sắc như cảm giác, cảm tưởng hay ý nghĩa của hình ảnh. Do vậy, phân tích ảnh, nhận dạng và thị giác máy tính đóng vai trò cơ bản trong các hệ thống tra cứu thông tin trực quan. Nó cho phép tự động trích chọn hầu hết các thông tin trực quan, thông qua việc phân tích phân bố điểm ảnh và rút ra các độ đo nội dung trực quan. Trong đồ án này, em chỉ tập trung vào đặc trưng màu cho ứng dụng tra cứu ảnh dựa theo nội dung.
Các chức năng của một hệ thống tra cứu ảnh dựa vào nội dung tiêu biểu Một hệ thống tra cứu ảnh dựa theo nội dung (Content-Based Image Retrieval) tiêu biểu không chỉ xử lý các nguồn thông tin khác nhau mà ở các khuôn dạng khác nhau (như văn bản, hình ảnh và video) mà còn giải quyết được các nhu cầu của người sử dụng. Về cơ bản hệ thống phân tích cả các nội dung của nguồn thông tin cũng như các truy vấn sử dụng, và đem so sánh các nội dung này để tra cứu các mục tin liên quan. Các chức năng chỉnh của một hệ thống tra cứu ảnh bao gồm các nội dung sau:. 13 Phân tích các nội dung của các nguồn thông tin, và biểu diễn các nội dung của các nguồn được phân tích theo cách thích hợp cho so sánh các truy vấn sử dụng.
Bước này thông thuờng cần rất nhiều thời gian do nó phải xử lý lần lượt các thông tin nguồn (các ảnh) trong cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, bước này được thực hiện chỉ một lần. Phân tích các truy vấn người sử dụng và biểu diễn chúng ở dạng thích hợp cho so sánh với cơ sở dữ liệu nguồn. Bước này là tương tự bước trước, nhưng chỉ được áp dụng với ảnh truy vấn.
Định nghĩa một chiến lược để so sánh các truy vấn tìm kiếm với thông tin trong cơ sở dữ liệu được lưu trữ. Tra cứu thông tin liên quan theo một cách hiệu quả. Bước này được thực hiên trực tuyến và được yêu cầu rất nhanh. Các kỹ thuật đánh chỉ số hiện đại có thể được sử dụng để tổ chức lại không gian đặc trưng để tăng tốc quá trình đối sánh.
Thực hiện các điều chỉnh cần thiết trong hệ thống dựa trên phản hồi từ người sử dụng hoặc các ảnh được tra cứu. Người Tạo Trích chọn đặc trưng Cơ sở sử dụng truy vấn dữ liệu nh Phản hồi Véc tơ đặc Cơ sở dữ liệu liên quan trưng đặc trưng Đánh chỉ số So sánh độ tương tự Các kết quả tra cứu Ảnh Hình 1.1: Mô hình hệ thống tra cứu ảnh dựa theo nội dung. Truy vấn ngƣời sử dụng Có nhiều cách gửi một truy vấn trực quan. Một phương pháp truy vấn tốt là một phương pháp tự nhiên đối với người sử dụng cũng như thu được đủ thông tin từ người sử dụng để trích rút các kết quả có ý nghĩa.
Các phương pháp truy vấn dưới đây sử dụng phổ biến trong nghiên cứu tra cứu ảnh dựa theo nội dung: 1. Truy vấn bởi ảnh mẫu (QBE – Query By Example) Trong kiểu truy vấn này, người sử dụng hệ thống chỉ rõ một ảnh truy vấn đích dựa vào cơ sở dữ liệu sẽ tìm kiếm được các ảnh tương tự nhất. Ảnh truy vấn có thể là ảnh thường, một ảnh quét có độ phân giải thấp, hoặc một phác thảo sử dụng công cụ mô tả giao diên đồ họa. Ưu điểm của hệ thống này đó là nó là một cách tự nhiên cho những người sử dụng chung và để tra cứu ảnh trong cơ sở dữ liệu.
Truy vấn bởi đặc trƣng (QBF – Query By Feature) Trong hệ thống QBF tiêu biểu, những người sử dụng chỉ rõ truy vấn bằng việc chỉ rõ các đặc trưng được quan tâm trong tìm kiếm. Như người dùng có thể truy vấn cơ sở dữ liệu ảnh bằng cách đưa ra một lệnh để tra cứu tất cả các ảnh có góc phần tử trái chứa 25% pixel màu vàng. Truy vấn này được chỉ rõ bằng việc sử dụng các công cụ giao diện đồ họa chuyên dụng. Những người sử dụng hệ thống tra cứu ảnh chuyên nghiệp thì có thể thấy loại truy vấn này là bình thường, nhưng người sử dụng chung thì không thể.
QBIC [3] là một ví dụ về hệ thống tra cứu ảnh dựa theo nội dung sử dụng loại phương pháp truy vấn này. Các truy vấn dựa vào thuộc tính (Attribute – Based queries) Các truy vấn dựa vào thuộc tính sử dụng các chú thích văn bản, trích rút bởi nỗ lực của con người, như một khoá tra cứu chính. Loại biểu diễn này đòi hỏi một độ trừu tượng cao khó để thu được bằng các phương pháp tự động hoàn toàn do một ảnh chứa một số lượng lớn các thông tin mà khó tóm tắt khi sử dụng một số ít các từ khoá. Phương pháp này nhìn chung là nhanh hơn và dễ hơn để thực hiện, nhưng có một độ chủ quan và nhập nhằng cao xuất hiện như chúng ta đã đề cập.
Hầu hết nỗ lực nghiên cứu và thương mại tập trung vào xây dựng các hệ thống thực hiện tốt với các phương pháp QBE. Đánh chỉ số nhiều chiều Để thực hiện tra cứu ảnh dựa vào nội dung đối với các cơ sở dữ liệu ảnh lớn, các kỹ thuật đánh chỉ số nhiều chiều cần được sử dụng. Có ba cộng đồng nghiên cứu chính đóng góp vào lĩnh vực này: hình học tính toán, quản trị cơ sở dữ liệu, và nhận dạng mẫu. Các kỹ thuật đánh chỉ số nhiều chiều phổ biến đã có gồm thuật toán bucketing, cây k-d, cây k-d ưu tiên, cây tứ phân, cây K-D-B, cây hB, cây R-tree và các biến thể của nó cây R+ và R*.
Lịch sử của các kỹ thuật đánh chỉ số nhiều chiều có thể quay lại giữa những năm 1970, khi các phương pháp khối, cây tứ phân, và cây k d được giới thiệu lần đầu tiên. Tuy nhiên, hiệu năng của nó thì còn xa so với mong muốn. Bị thúc đẩy bởi nhu cầu cấp bách của đánh chỉ số không gian từ các hệ thống GIS và CAD, Guttman đã đề xuất cấu trúc đánh chỉ số R-tree [2]. Dựa trên nghiên cứu của ông, nhiều biến thể khác của R- tree đã được phát triển [1].
Năm 1990, Beckmann và Kriegel đã đề xuất biến thể R-tree động, R* tree trong [5]. Tuy nhiên, R* tree không thực hiện tốt với số chiều lớn hơn 20. Đánh giá hiệu năng tra cứu Để đánh giá hiệu năng của hệ thống tra cứu, người ta đưa ra hai số đo đó là độ thu hồi (recall) và độ chính xác (precision). Các số đo này được lấy từ hệ thống tra cứu thông tin truyền thống.
Đối với một truy vấn q , tập hợp các ảnh trong cơ sở dữ liệu thích hợp với truy vấn q được ký hiệu là R q còn kết quả tra cứu của truy vấn q được ký hiệu là Q q. Độ chính xác của việc tra cứu được định nghĩa là tỉ lệ những kết quả thu được thích hợp với truy vấn.2 R( q ) Việc lựa chọn R q lại rất không ổn định do sự đa đạng của cách hiểu về một bức ảnh. Hơn nữa, khi số lượng ảnh thích hợp lại lớn hơn số lượng ảnh hệ thống tìm. 16 được thì lúc đó khái niệm độ thu hồi trở thành vô nghĩa.
Do đó, độ chính xác và độ thu hồi chỉ là các mô tả ở dạng thô về hiệu năng của một hệ thống tra cứu. Gần đây MPEG7 có đề nghị một cách đánh giá mới về hiệu năng của các hệ thống tra cứu gọi là ANMRR(average normalized modified retrieval rank). Theo cách này độ chính xác và độ thu hồi được kết hợp thành một số đo duy nhất. Ký hiệu số lượng ảnh hoàn toàn đúng với truy vấn q là N(q) và số lượng lớn nhất của các ảnh hoàn toàn đúng với tất cả Q truy vấn tức là max N q1 , N q 2 ,.Sau đó đối với mỗi truy vấn q thì mỗi bức ảnh hoàn toàn đúng k được gán một giá trị xếp hạng rank(k) giá trị này là thứ hạng của nó trong số những ảnh hoàn toàn đúng nếu ảnh đó nằm trong k kết quả truy vấn đầu tiên ( k min 4 N q ,2M ) hoặc có giá trị k 1 nếu ảnh đó không nằm trong k kết quả truy vấn đầu tiên.
Thứ hạng trung bình AVR q đối với truy vấn q được tính: N q rank q AVR (q ) 1.3 k 1 N q Thứ hạng tra cứu sửa đổi MRR q được tính là: MRR q AVG q 0.4 MRR q nhận giá trị 0 khi tất cả các ảnh hoàn toàn đúng đều nằm trong k kết quả truy vấn đầu tiên. Thứ hạng tra cứu sửa đổi và chuẩn hoá NMRR q ) nhận giá trị từ 0 đến 1 được tính: MRR (q) NMRR (q) 1.5 * N (q) Thứ hạng tra cứu sửa đổi và chuẩn hoá trung bình ANMRR xét trên tất cả các truy vấn Q là: 1 Q ANMRR NMRR q 1.