ĐẶT VẤN ĐỀ Mặc dù đã có nhiều biến chuyển tích cực trong những năm gần đây, tình hình SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi hiện vẫn đang là một vẩn đề y tế công cộng rất phổ biến tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam [1], [18], [46], [51]. Báo cáo lần thứ 4 về tình hình dinh dưỡng toàn cầu năm 2000 [13] của Uỷ ban thường trực dinh dưỡng Liên hợp quốc và Viện nghiên cứu chính sách lương thực quôc tê (ACC/SCN/IFPRI) cho thấy có khoảng 30 triệu trẻ sơ sinh bị ảnh hưởng bởi hậu quả của SDD bào thai và có khoảng 185 triệu trẻ dưới 5 tuổi (34%) bị SDD (thể thấp còi- stunting) tại các quốc gia đang phát triển, cao nhât tại khu vực Tây Phi (48%) và Trung Nam Ả (44%). Qua từng năm, mặc dù các số liệu đã chỉ ra tình hình SDD có giảm, nhưng vẫn là một vấn đe đáng quan ngại. Cụ the, theo báo cáo của WHO và UNICEF [52], [56], năm 2002 vẫn còn khoảng 182 triệu trẻ bị SDD (chiều cao theo tuổi).
Theo ACC/SCN/IFPRI, trong Báo cáo lần thứ 5 về tình hình dinh dưỡng toàn càu năm 2005 [14], còn khoảng 178 triệu trẻ dưới 5 tuôi (32%) bị SDD (thể thấp còi) tại các quốc gia đang phát triển. Hậu quả của SDD để lại là rất nặng nề [1], [5], [36]. SDD là nguyên nhân gây ra 2,1 triệu ca tử vong của trẻ dưới 5 tuổi (chiếm 21% tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi trên toàn cầu) và 91 triệu DALYs (chiếm 21% DALYs trẻ dưới 5 tuổi toàn cầu) [46]. SDD ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, khả năng học hành của trẻ, khả nàng lao động đến tuổi trưởng thành cũng như nguy cơ mắc một số bệnh mạn tính ở tuổi trưởng thành, như bệnh tim mạch, đái tháo đường [1], [36].
Những trẻ bị SDD sẽ kéo theo nguy cơ cao mắc các bệnh tiêu cháy, viêm phoi, và tăng nguy cơ tử vong [5], [46]. Ở nước ta, tỷ lệ SDD đang có xu hướng giảm nhanh. Mặc dù vậy, tình trạng SDD của trẻ với những hậu quả xã hội to lớn vẫn đang là vấn đề hết sức cấp bách cần giải quyết. Năm 2000, theo số liệu của cuộc tổng điều tra dinh dưỡng điều tra (Tổng cục thống kê và Viện Dinh dưỡng) [2], tỷ lệ SDD toàn quốc là 33,8%; giảm xuống còn dưới 30% tính đến năm 2002.
Năm 2008, tỷ lệ SDD tính chung chỉ còn 20%, nhưng SDD thể thấp còi vẫn còn rất cao: 32,6% [58] [59]. Những nguyên nhân dẫn đến SDD rất đa dạng [1], [35]. Các nguyên nhân trực tiếp là: SDD bào thai, khẩu phàn ăn của trẻ, tình trạng nhiễm khuẩn. Nguyên nhân sâu xa bao gôm sự 2 bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, các vấn đề về nước sạch, vệ sinh môi trường, nhà ở.
Và một nguyên nhân gốc rễ không thể không nhắc đến, đó là tình trạng đói nghèo, ỉạc hậu về các mặt phát triên nói chung, bao gôm cả sự mât bình đẳng về kinh tế [1], [5], [21], Mục tiêu của bài viết này tập trung trình bày tổng quan thực trạng SDD tại Việt Nam và các quốc gia đang phát triển, đồng thời trình bày mô hình nguyên nhân - hậu quả của SDD trẻ dưới 5 tuổi. SDD gồm 2 loại: SDD prôtêin - năng lượng (Protein-Energy Malnutrition: PEM) và SDD do thiếu vi chất. Trong 2 loại, SDD prôtêin - năng lượng chiếm chủ yếu trong các trường hợp SDD hiện nay [35], [56] và dể lại nhiều hậu quả nặng nề cho cá nhân và xã hội. Vì vậy tổng quan này tập trung chủ yếu vào SDD prôtêin - năng lượng.
Bên cạnh đó, bài viết cũng trình bày một số chương trình can thiệp phòng chống SDD prôtêin - năng lượng cho trẻ dưới 5 tuổi đã được triển khai tại các nước đang phát triển và Việt Nam. 3 PHẦN 2: MỤC TIÊU 1. Trình bày tổng quan thực trạng SDD prôtêin - năng lượng trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển và Việt Nam, giai đoạn năm 2000-2008. Trình bày tổng quan mô hình nguyên nhân - hậu quả của SDD prôtêin - năng lượng ở trẻ dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển và Việt Nam.
Trình bày một số giải pháp can thiệp phòng chổng SDD prôtêin - năng lượng cho trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước dang phát triển và Việt Nam. 4 PHẦN 3: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP I. TIÊU CHUẨN LỤA CHỌN TÀI LIỆU Các tài liệu được sử dụng cho bài viết tổng quan này chủ yếu là những nghiên cứu và các báo cáo có nội dung tập trung vào thực trạng và/hoặc các giải pháp can thiệp phòng chống SDD của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam và các nước đang phát triên. Các tài liệu có thê được xuât bản trong nước và quôc tê, được công bô trong khoảng thời gian từ năm 2000 trở lại đây.
Sở dĩ, thời gian công bố được lựa chọn như vậy vì năm 2000 là năm Chính phủ Việt Nam đề ra mục tiêu dinh dưỡng quốc gia giai đoạn 2000-2010, đông thời cũng là năm VDD và TCTK tiên hành Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc lần 11, các số liệu đảm bảo tính chính xác, tổng quan và cập nhật hơn. Các tài liệu phải được viết bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt, ưu tiên các tài liệu được công bố dạng toàn văn (full text), chỉ sử dụng các tài liệu tóm tắt (abstract) trong trường hợp không tiếp cận được tài liệu toàn văn. Các tài liệu phải đảm bảo có nguồn gốc rõ ràng, được xuất bản, công bố bởi các cơ quan uy tín: các viện dinh dưỡng, các cơ quan nghiên cứu về sức khoẻ trẻ em, các trường đại học chuyên ngành liên quan, các tạp chí khoa học. NGUỒN THU THẬP CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO Các tài liệu được tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu là HINAR1, PUBMED.
Một nguồn tìm kiếm tài liệu tin cậy khác là các tổ chức, cơ quan trong lĩnh vực liên quan như: Bộ Y tế, Viện Dinh dưỡng, Trường Đại học Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội, IFPRI, Savethechiỉdren UK, UNICEF, WHO. Bên cạnh đó, các tạp chí khoa học uy tín như: Tạp chí Y tế công cộng, Asia pacific journal of clinic nutrition, International Jounrnal of Epedimiology, The Lancet, Journal of Nutrition cũng là những nguồn thu thập tài liệu tham khảo chính. Sau khi tìm được tài liệu phù hợp, người viết sẽ tiếp tục thu thập các tài liệu có tại danh mục tài liệu tham khảo của các nguồn trên (nếu cần thiết) để tìm hiểu đầy đủ và toàn diện hơn về vấn đề SDD trẻ em dưới 5 tuổi. Các từ khoá (key words) được sử dụng trong quá trình tìm kiểm tài liệu: Tiếng Việt: Suy dinh dưỡng, suy dinh dưỡng protein năng lượng, SDD thê nhẹ cân, 5 SDD thể còi cọc, SDD thể gầy còm, trẻ dưới 5 tuổi, suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi, tình hình dinh dưỡng/ suy dinh dưỡng, can thiệp suy dinh dưỡng, các nước đang phát triển.
Tiếng Anh: Malnutrition, underweight, stunting, wasting, PEM (Protein - energy malnutrition), children under 5, malnutrition of under 5 children, nutrition/malnutrition stituation, malnutrition intervention, developing countries. QUY TRÌNH TỐNG HỢP TÀI LIỆU THAM KHẢO Trước hết, tiến hành đọc tổng quát các tài liệu, nắm bắt sơ lược mục đích cũng như các ý chính của tài liệu có đề cập đến tình trạng SDD, các giải pháp can thiệp phòng chống SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam và các nước đang phát triển. Tiếp theo, các thông tin được tổng hợp và phân loại phù hợp thành từng mục: thực trạng trẻ SDD, nguyên nhân và hậu quả của SDD ở trẻ dưới 5 tuổi, các chương trình can thiệp phòng chống SDD. Việc các thông tin được tổng hợp và phân loại cụ thể như vậy sẽ đảm bảo tính sử dụng thuận tiện và tránh bỏ sót tài liệu trong quá trình viết tổng quan cũng như trong quá trình trích dẫn tài liệu tham khảo.
Các tài liệu được sử dụng và ghi chú cụ thể nguồn trích dẫn tài liệu - theo đúng quy định trích dẫn tài liệu tham khảo hiện hành của Bộ giáo dục và Đào tạo. Cuối cùng, rà soát lại các tài liệu một cách chi tiết để bổ sung những thông tin, số liệu đang còn thiếu hoặc đang còn phân vân. Sau đó, sẽ sử dụng các thông tin này cho viết hoàn chỉnh tổng quan. THÔNG SÓ VÈ TÀI LIỆU THAM KHẢO Các tài liệu về tình trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi phong phú, đầy đủ và cập nhật.
Các tài liệu tham khảo được sử dụng đều là những tài liệu được công bô từ năm 2000 trở lại đây, trong đó có 36 tài liệu (58%) được công bố từ năm 2005. Tổng sổ tài liệu tham khảo là 62 tài liệu, trong đó số tài liệu tiếng Việt là 15 (chiếm 24%), tài liệu tiếng Anh là 47 (chiếm 76%). Các tài liệu thu thập được gồm có 4 tổng quan, 9 sách, 19 báo cáo và 30 nghiên cửu toàn vãn. 6 PHẢN IV- NỘI DUNG TỎNG QUAN I.
CÁC THUẬT NGỪ LIÊN QUAN ĐÉN VẤN ĐÈ “SUY DINH DƯỠNG TRẺ DƯỚI 5 TUỒI” 1. Định nghĩa Khái niệm Suy dinh dưỡngprotein-năng lượng ở trẻ em do Jellife nêu lên lần đầu vào năm 1959 [I], [5]. Theo ông, các thể bệnh SDD protein-nãng lượng đều có liên quan tới khẩu phần ăn thiểu protein và thiếu năng lượng ở các mức độ khác nhau. Theo WHO, UNICEF [52], [56], SDD là hậu quả để lại do việc thiếu hụt lượng dinh dưỡng cần được cung cấp vào hoặc do những yếu to bệnh tật tác động đến quá trình tiêu hoá của cơ thể.
Đây là định nghĩa thường được sử dụng nhất trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay. SDD protein-năng lượng (Protein-Energy Malnutrition: PEM) là loại thiểu dinh dưỡng quan trọng, khó có bệnh nào có thể so sánh được về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng. Mặc dù gọi là SDD protein-năng lượng nhưng đây không chỉ là tình trạng thiểu hụt protein và năng lượng mà thường thiếu kết hợp nhiều chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng [1], [39]. Phân loại Hiện có nhiều cách phân loại SDD, phổ biến nhất là phân loại SDD theo lâm sàng và phân loại SDD trên cộng đồng.1 Trên lâm sàng Phân loại SDD theo lâm sàng là cách phân loại khá kinh điển, gồm các thể SDD nặng sau: SDD thể tco đét (Marasmus) và SDD thể phù (Kwashiorkor) [1], Đây là 2 thể SDD nặng, hiện nay ít gặp, do đó cũng ít có ý nghĩa trên cộng đồng [58], 2.2 Trên cộng đồng Để xác định tình trạng SDD, chủ yểu người ta dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc (cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao) [1], [39].
Trước đây, có nhiều cách khác nhau để phân loại SDD: cách phân loại của Gomez (1956), của Jelliffe (1966), Waterlow (1977).