LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế cũng như bùng nổ dân số đã tạo ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực lên môi trường sống, một trong số đó là vấn đề ô nhiễm kim loại nặng (KLN) trong nước. Các hoạt động công nghiệp và sinh hoạt của con người đã thải ra một lượng lớn KLN độc hại vào môi trường đất và nước, t ch lũy trong chuỗi thức ăn và cuối cùng tác động tới con người. Các KLN như đồng, chì, asen, mangan,… trong nguồn nước làm ảnh hưởng đến môi trường sống của sinh vật, khi xâm nhập vào cơ thể gây tác động tiêu cực đến sức khỏe con người. Nhiều phương pháp xử lý đã được ứng dụng như: kết tủa, hấp phụ, thẩm thấu ngược, trao đổi ion,.
Trong đó, hấp phụ là phương pháp với giá thành thấp và hiệu quả xử lý cao nên được sử dụng phổ biến. Các vật liệu như than hoạt tính, silicagel, zeolite, than nâu, than bùn, than cốc, đôlomit, cao lanh, tro,… đã được sử dụng để xử lý các ion kim loại. Tuy nhiên, các vật liệu truyền thống có nhược điểm như: cơ chế hấp phụ chủ yếu là hấp phụ vật lý, dung lượng hấp phụ thấp, thiếu các nhóm ái lực bề mặt để thực hiện hấp phụ hóa học cũng như khả năng tái sinh thấp. Vì vậy, nghiên cứu phát triển các vật liệu hấp phụ mới với hiệu quả cao và dễ thu hồi đang thu h t nhiều quan tâm nghiên cứu.
Graphene aerogel (GA) đang trở thành vật liệu thu h t được nhiều sự quan tâm nghiên cứu và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: điện tử, năng lượng, vật liệu,. GA với độ xốp cao, khối lượng riêng thấp, diện tích bề mặt riêng cao, và cấu tr c 3D được xem là vật liệu hấp phụ tiềm năng. Do đó, luận văn được tiến hành với tên đề tài ―Tổng hợp vật liệu 3D-graphene aerogel để hấp phụ asen, chì ”. xvii CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.
Graphite Graphite (Gi) là một dạng thù hình của cacbon, gồm các đơn lớp graphene liên kết với nhau bằng tương tác Van der Waals tạo thành, khoảng cách giữa các lớp là 0,34 nm. Cấu trúc của Gi được mô tả ở hình 1. Nguyên tử cacbon Lực Van der Waals Liên kết cộng hóa trị Hình 1.1: Cấu trúc graphite Gi được cấu tạo từ các đơn lớp graphene (Gr), gồm các nguyên tử cacbon sắp xếp theo cấu trúc lục giác trên cùng một mặt phẳng. Trong mỗi đơn lớp, mỗi nguyên tử cacbon liên kết với các nguyên tử cacbon kề bên bằng liên kết cộng hóa trị (σ) tạo thành bởi sự xen phủ của các vân đạo s-p, tương ứng với trạng thái lai hóa sp2.
Bên cạnh đó, điện tử tự do của cacbon tham gia tạo liên kết tạo nên các tính chất dẫn điện, và dẫn nhiệt của Gi [2]. Các tính chất của graphite được trình bày ở bảng 1.1: Tính chất vật lý của graphite Tính chất vật lý Graphite Khối lượng riêng 2,26 g/cm3 Thể tích nguyên tử 5,315 cm3/mol Nhiệt độ thăng hoa (1 atm) 4000 K Điểm ba 4200 K Nhiệt độ sôi 4560 K Nhiệt hóa hơi 716,9 kJ/mol Độ âm điện Pauling 2,5 Ứng dụng Gi được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như thể hiện ở bảng 1.2: Ứng dụng Gi trên thế giới Ứng dụng Nhu cầu Vật liệu chịu lửa, đ c, nồi nấu kim loại 39 % Pin 9% Luyện kim 28 % Chất bôi trơn 9% Linh kiện 10 % Khác 5% Trong những năm gần đây, Gi là nguyên liệu tổng hợp các vật liệu trên cơ sở graphene thông qua quá trình oxy hóa và tách lớp graphite tạo graphite oxit. Graphite oxit Graphite oxit (GiO) hay còn gọi là axit graphite, được Brodie tổng hợp lần đầu vào năm 1859, bằng cách xử lý Gi với hỗn hợp kali clorat, và axit nitric đậm đặc. Khi Gi bị oxy hóa, các nối đôi C=C dần bị thay thế bởi các nhóm chức phân cực như hydroxyl 2 (-OH), epoxy (-O-), carbonyl (-C=O), carboxyl (-COOH),… Bên cạnh đó, sự xuất hiện các nhóm chức gi p gia tăng khoảng cách các đơn lớp trong GiO (0,6 – 0,7 nm) so với Gi ban đầu (0,34 nm), là cơ sở cho việc tổng hợp các vật liệu trên cơ sở Gr như graphene oxit, graphene,.
Cấu trúc Graphene oxit (GO) là đơn lớp của GiO. GO có cấu tr c tương tự Gr có gắn thêm các nhóm chức chứa oxy như hydroxyl, epoxy, cacbonyl, carboxyl,… [4, 5]. Nhiều mô hình mô tả cấu tr c GO đã được đề xuất bởi nhiều nhà nghiên cứu như Hofmann và Holst, Ruess, Scholz-Boehm, Nakajima-Matsuo, Lerf–Klinowski. Cấu trúc GO theo mô hình Lerf–Klinowski được thể hiện ở hình 1.2: Cấu trúc của GO Do có nhiều nhóm chức chứa oxy trên bề mặt nên GO có khả năng tạo liên kết hydro với nước như thể hiện ở hình 1.
Bên cạnh đó, các nhóm chức mang điện tích âm tạo tương tác đẩy giữa các lớp GO, gia tăng khoảng cách giữa các lớp (0,8 – 1 nm) so với Gi (0,34 nm). Tuy nhiên, GO có khả năng dẫn điện kém do các nhóm chức phá vỡ cấu trúc mạng lưới cacbon sp2 [7].3: Liên kết giữa các tấm GO 1. Phương pháp tổng hợp Quá trình tổng hợp GO từ Gi qua hai giai đoạn: oxy hóa tạo GiO và tách lớp GiO tạo GO. Sau quá trinh oxy hóa, Các nhóm chức chứa oxy như -OH, -COOH, -CHO,.
sau khi chèn vào cấu trúc Gi sẽ làm tăng khoảng cách giữa các lớp, đồng thời làm giảm lực liên kết yếu Van der Waals giữa các lớp Gr. Sau đó, GiO được siêu âm tách lớp tạo GO [8]. Quá trình tổng hợp GO từ Gi được thể hiện ở hình 1. H2SO4 H3PO4 Siêu âm KMnO4 Graphite Graphite oxit Graphene oxit Hình 1.4: Quá trình tổng hợp GO từ Gi [9] 4 Các phương pháp tổng hợp GO đã được phát triển: Brodie, Staudenmeier, Hummers và Hummers cải tiến như thể hiện ở bảng 1.3: Các phương pháp tổng hợp GO Phƣơng pháp Tác nhân oxy hóa Tỉ lệ C/O Brodie KClO3 2,4 2,9 L.
Staudenmaier KClO3 2,2 Hummers KMnO4 1,8 2,5 Hummers cải tiến KMnO4 0,7 1,3 Phƣơng pháp Brodie GO đầu tiên được tổng hợp bởi Brodie vào năm 1859. Gi được oxy hoá bởi kali clorat (KClO3) trong HNO3 bốc khói. Phương pháp này cần bốn lần oxy hóa để đạt được GiO có mức độ oxy hóa cao, hao tốn nhiều hóa chất. Đồng thời, trong quá trình phản ứng sinh ra khí ClO2 dễ cháy nổ, hỗn hợp khí NO2, và N2O độc hại [10].
Phƣơng pháp L. Staudenmaier cải thiện phương pháp của Brodie bằng cách sử dụng hỗn hợp HNO3 và axit sunphuric (H2SO4) kết hợp với tác nhân oxy hóa KClO3. Tuy nhiên, khí ClO2 dễ nổ vẫn còn và thời gian phản ứng kéo dài bốn ngày [4]. Phƣơng pháp Hummers Phương pháp này dùng tác nhân oxy hóa là KMnO4 và NaNO3 trong môi trường H2SO4 thay cho KClO3/HNO3 ban đầu, do đó không phát sinh khí ClO2.
Phương pháp này với ưu điểm là thực hiện ở nhiệt độ thấp, phản ứng chỉ mất khoảng vài giờ. Tuy nhiên, quá trình phản ứng qua nhiều giai đoạn, phát sinh hỗn hợp khí NO2 và N2O4 độc hại [4]. Phƣơng pháp Hummers cải tiến Năm 2010, nhóm nghiên cứu của giáo sư Tour tại Đại học Rice (Mỹ) đã phát triển phương pháp tổng hợp GO không sử dụng NaNO3, không tạo ra các kh độc hại như NO2, và N2O4. Sản phẩm thu được có mức độ oxy hóa cao và độ khuyết tật trong cấu trúc thấp [4].
Tác nhân oxy hóa chính của quá trình là Mn2O7 tạo thành khi KMnO4 phản ứng với H2SO4 đậm đặc. Mn2O7 tấn công vào nối đôi của anken và hình thành các nhóm chức 5 chứa oxy trên bề mặt của Gr. Nếu không có H3PO4 diol sẽ tiếp tục bị oxy hóa thành dione và tạo thành các lỗ hổng trong mạng cacbon. Với sự có mặt của H3PO4, cấu trúc vòng năm cạnh hình thành giúp giúp bảo vệ các nhóm diol, giảm thiểu việc oxy hóa quá mức, và bảo bệ cấu trúc của GO như thể hiện ở hình 1.5: Tác dụng của H3PO4 trong quá trình tổng hợp GO 1.
Ứng dụng GO có rất nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau như vật liệu, năng lượng, y học, sinh học, môi trường,… [12]. - Năng lƣợng: GO có diện tích bề mặt lớn và có k ch thước nano, do đó có thể được dùng làm các pin nhiên liệu và pin năng lượng mặt trời,… - Y học và sinh học: dùng để cảm ứng sinh học, phát hiện bệnh sớm và hỗ trợ chữa trị ung thư. - Vật liệu: GO kết hợp với các polymer như chitosan, polypropylen, polyvinylclorua, poly(vinyl alcohol),… để tạo thành vật liệu nanocomposite mới có tính chất tốt hơn so với vật liệu ban đầu về các mặt như mô đun đàn hồi, độ bền kéo, độ dẫn điện, độ ổn định nhiệt,… 6 - Môi trƣờng: GO có thể được ứng dụng tổng hợp xúc tác quang, vật liệu hấp phụ, màng lọc nhằm loại các chất màu hữu cơ, ion kim loại, vi khuẩn,. trong nước thải.
Tuy nhiên, GO có một số hạn chế như các lớp dễ kết dính lại với nhau và khả năng phân tán trong nước cao nên khó thu hồi. Để khắc phục các nhược điểm trên, vật liệu graphene aerogel (GA) với cấu trúc ba chiều (3D) đã được phát triển góp phần mở rộng ứng dụng của các vật liệu trên cơ sở graphene. Cấu trúc Aerogel được S. Kistler giới thiệu lần đầu vào năm 1930 khi ông loại dung dịch gel lỏng bằng phương pháp sấy siêu tới hạn [13].
Kistler chủ yếu tập trung vào nghiên cứu silica aerogel. Tuy nhiên do việc tổng hợp phức tạp, aerogel đã không được ch ý đến. Qua nhiều thập kỉ cùng với những tiến bộ trong tổng hợp aerogel và công nghệ sấy, các loại aerogel khác nhau đã được nghiên cứu và tổng hợp bao gồm aerogel vô cơ (SiO2, TiO2, Al2O3, ZrO2), hữu cơ (resorcinol-formaldehit), (polyurethan, polyimit, polystyren,…), và graphene (graphene aerogel, graphene oxit aerogel,…) [14]. Trong những năm gần đây, GA với những đặc t nh ưu việt đang được quan tâm nghiên cứu.
GA có cấu trúc mạng lưới 3D gồm các lớp graphene oxit dạng khử (reduce graphene oxide-rGO) tự sắp xếp với nhau thông qua tương tác Van der Waals, liên kết ππ hoặc các tương tác ion, tương tác lưỡng t nh dưới sự hỗ trợ của các chất kết dính (chitosan, agar, poly(vinylalcohol),…) [15]. Sản phẩm GA được mô tả ở hình 1.6: Sản phẩm GA được tổng hợp trong luận văn 7 1. Phương pháp tổng hợp Các phương pháp tổng hợp GA từ GO đã được nghiên cứu: phương pháp liên kết ngang, khử thuỷ nhiệt, khử hoá học,. Phương pháp liên kết ngang GA với khối lượng riêng thấp được tổng hợp bằng việc sử dụng resorcinol (R) - formaldehyde (F) như chất kết dính hữu cơ tạo liên kết ngang như thể hiện ở hình 1.