MỞ ĐẦU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Vanadi pentoxit (V2O5) là một trong những vật liệu đa chức năng được nghiên cứu rộng rãi cho nhiều ứng dụng khác nhau như: thiết bị vi điện tử và quang điện tử, vật liệu điện sắc, pin Kẽm – ion, siêu tụ điện, quang xúc tác… V2O5 đã được nghiên cứu cả ở quy mô nano (bao gồm các dây nano, dây nano, thanh nano…) và micro (vi cầu) với nhiều phương pháp tổng hợp khác nhau. Hạt nano V2O5 được điều chế bằng nhiều phương pháp như nhiệt phân phun, phương pháp thủy nhiệt, lắng đọng hơi hóa học, bay hơi nhiệt bột oxit và phương pháp sol-gel. Trong ứng dụng quang xúc tác, các nghiên cứu hầu hết đều đánh giá V2O5 như một chất quang xúc tác hai chức năng, có thể xúc tác cho cả phản ứng oxy hóa và phản ứng khử.
V2O5 được coi là một chất xúc tác quang đầy triển vọng để phân hủy hầu hết các loại chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy. Hơn nữa, hoạt tính quang xúc tác của V2O5 là phụ thuộc vào hình thái của nó do phản ứng quang xúc tác xảy ra ở bề mặt chất xúc tác trong dung dịch với các chất ô nhiễm hữu cơ. Hình thái, tính chất, cấu trúc của vật liệu V2O5 phụ thuộc vào một số thông số như phương pháp chế tạo, nhiệt độ, hàm lượng tiền chất, nồng độ, pH, nhiệt độ, sử dụng chất hoạt động bề mặt. Trong quá trình quang xúc tác của vật liệu cấu trúc nano nói chung và V2O5 nói riêng, hình dạng, kích thước, diện tích bề mặt riêng là những thông số có ý nghĩa ảnh hưởng đến tính chất quang xúc tác của chất xúc tác.
Trong số các yếu tố này, sử dụng chất hoạt động bề mặt được chứng minh là một phương pháp hiệu quả để thu được hình thái đặc biệt của V2O5. Việc bổ sung chất hoạt động bề mặt sẽ làm giảm sức căng bề mặt và năng lượng bề mặt của các hạt chất lỏng, do đó làm giảm sự kết tụ của chúng, cuối cùng là kiểm soát hiệu quả kích thước và hình thái của các hạt nano. Một số nhà nghiên cứu đã đưa chất hoạt động bề mặt vào quá trình thủy nhiệt để kiểm soát hình thái của V2O5 vì tương tác hấp phụ của chất hoạt động bề mặt trên các mặt phẳng cực của tinh thể V2O5 có thể thay đổi quá trình phát triển của tinh thể. 1 Trong quá trình chế tạo vật liệu nano V2O5 các chất hoạt động bề mặt có tác động mạnh đến hình thái học, đồng thời ảnh hưởng đến độ kết tinh, tính chất quang điện tử và bề mặt của vật liệu nano này.
Nghiên cứu ảnh hưởng của chất hoạt động bề mặt trong quá trình tổng hợp vật liệu nano V2O5 được nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu và phát triển. Tiêu biểu có thể kể đến như: 1. Năm 2015, Raj và các cộng sự [1] điều chế hạt nano V2O5 bằng phương pháp thủy nhiệt với việc sử dụng chất hoạt động bề mặt SDS, CTAB và Triton-X thu được kích thước tinh thể nano lần lượt là 61,6 nm; 27,5 nm và 46 nm. Các mẫu có mặt SDS được sử dụng làm chất xúc tác quang cho thuốc nhuộm methyl orange, đạt được mức phân hủy 84% dưới ánh sáng tử ngoại sau thời gian chiếu sáng là 90 phút.
Trong báo cáo của Aslam M. và các cộng sự [2], V2O5 được tổng hợp bằng quy trình kết tủa hóa học sử dụng Triton X-100 để kiểm soát hình thái học và được ứng dụng trong sự phân hủy phenol và các dẫn xuất của nó (2- hydroxyphenol, 2-chlorophenol, 2-aminophenol và 2-nitrophenol) khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Hiệu suất phân hủy 2-chlorophenol lên tới 99% sau 180 phút chiếu sáng. Solis-Casados và các cộng sự [3] đã tổng hợp thành công thanh nano V2O5 có sự hỗ trợ của chất hoạt động bề mặt không ion polyoxyetylen lauryl ete (Brij L23) ứng dụng để phân hủy thuốc nhuộm xanh malachite dưới ánh sáng mặt trời.
Hiệu suất phân hủy xanh malachite lên tới 80% sau 180 phút chiếu sáng. Ibrahim I và các cộng sự [4] đã sử dụng các loại chất hoạt động bề mặt khác nhau: natri dodecyl sulphate (SDS), Tween 80, Triton X-100 (T100) và rượu polyvinyl (PVA) để tổng hợp V2O5 theo quy trình hóa ướt. Các mẫu được điều chế bằng cách sử dụng Tween 80 thể hiện các đặc điểm cấu trúc, hình thái và quang điện tử đặc biệt, đồng thời cho thấy hiệu suất xúc tác quang cao nhất để khử crom (VI) cũng như quá trình oxy hóa chất gây ô nhiễm nước xanh methylene (thuốc nhuộm azo) và tetracycline (kháng sinh). 2 Như vậy trong quá trình tổng hợp các vật liệu có cấu trúc nano, chất hoạt động bề mặt được sử dụng như một chất ổn định, chất phủ và khuôn mẫu.
Sự có mặt của chất hoạt động bề mặt có thể kiểm soát kích thước, sự phát triển không đẳng hướng và sự kết tụ trong quá trình tổng hợp vật liệu nano. Hơn nữa, khi thêm các chất hoạt động bề mặt trong dung dịch tiền chất có thể làm giảm sức căng bề mặt, thúc đẩy quá trình tạo mầm và giảm năng lượng của sự hình thành pha mới. Các phân tử chất hoạt động bề mặt bao gồm phần đầu ưa nước và phần đuôi hydrocacbon hoạt động như một phần kỵ nước. Sự sắp xếp siêu phân tử của các chất hoạt động bề mặt tạo thành các mixen trong dung dịch hoạt động như bộ điều khiển tăng trưởng thực hiện ức chế sự kết tụ.
Ưu điểm của việc sử dụng chất hoạt động bề mặt trong quá trình tổng hợp là nó tạo ra vật liệu có diện tích bề mặt lớn và ổn định tính chất của vật liệu chế tạo. TÍNH CẤP THIẾT CỦA NHIỆM VỤ KH&CN Khan hiếm nước sạch là một trong những vấn đề lớn mà con người hiện nay đang phải đối mặt. Quá trình công nghiệp hóa đã dẫn đến việc ô nhiễm nguồn nước trên khắp thế giới do việc thải trực tiếp nước thải độc hại ra môi trường. Để giải quyết vấn đề này, xúc tác quang hoạt động bằng ánh sáng Mặt trời đã trở nên phổ biến sau khi các nhà nghiên cứu phát hiện ra phản ứng quang điện trên điện cực titania.
Khám phá này có tác động lớn trong nhiều lĩnh vực như xử lý không khí, xử lý nước thải và sản xuất năng lượng. Cho đến nay, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để xử lý các chất gây ô nhiễm hữu cơ có trong nước thải bằng các phương pháp vật lý, hóa học và sinh học khác nhau. Xúc tác quang, sử dụng nguồn năng lượng của ánh sáng Mặt trời để thúc đẩy các phản ứng oxy hóa khử được cho là một trong những cách hiệu quả nhất để xử lý chất thải với khả năng oxy hóa mạnh, ít chất ô nhiễm thứ cấp, phản ứng ổn định và có tính khả thi về kinh tế. Trong số đó, xúc tác quang dị thể được coi là công nghệ đầy hứa hẹn để xử lý nước thải vì chi phí thấp, thân thiện với môi trường và tính bền vững cao.
Xúc tác quang bán dẫn là một trong những ứng cử viên có tiềm năng ứng dụng trong tách nước, khử CO2 và loại bỏ thuốc nhuộm, thuốc trừ sâu, dược phẩm và các chất thải hữu cơ khác. Các nhà nghiên cứu đã phát triển 3 nhiều chất quang xúc tác bán dẫn như TiO2, ZnO, SnO2, CdS, BiOY (Y = I, Br, Cl). Vật liệu nano V2O5 là một bán dẫn có nhiều tiềm năng cho lĩnh vực quang xúc tác bởi nó là một chất bền, không bị phân hủy dưới tác động của các yếu tố quang, hóa học, hơn nữa bản thân nó khi sử dụng làm chất xúc tác quang hoá không đưa thêm chất độc hại vào môi trường… Các nghiên cứu hiện nay đều tập trung vào việc tối ưu hóa các điều kiện chế tạo, nâng cao hiệu suất quang xúc tác của vật liệu V2O5 nhằm đáp ứng yêu cầu thương mại trong lĩnh vực năng lượng và môi trường. Nói chung, mặc dù một số chất hoạt động bề mặt đã được nghiên cứu trên cơ sở ảnh hưởng của chúng trong quá trình tổng hợp vật liệu nano V2O5, nhưng vẫn chưa có sự so sánh đầy đủ giữa các chất hoạt động bề mặt về bản chất, độ phân cực… Chúng tôi cho rằng tác dụng của chất hoạt động bề mặt trong việc hình thành chất xúc tác quang và hiệu suất của xúc tác quang và ảnh hưởng của các chất hoạt động bề mặt trong quá trình tổng hợp V2O5 vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu còn nhiều tiềm năng.
Vì vậy, việc lựa chọn một chất hoạt động bề mặt phù hợp để nâng cao hoạt tính quang xúc tác của chất xúc tác cho vật liệu V2O5 vẫn còn là thách thức và luôn cần phải đầu tư nghiên cứu. Dựa trên điều kiện các trang thiết bị hiện có tại phòng thí nghiệm Hóa học và Vật lý của Trường Đại học Hoa Lư, chúng tôi lựa chọn hướng nghiên cứu “ Nghiên cứu ảnh hƣởng của chất hoạt động bề mặt trong tổng hợp vật liệu nano V2O5 bằng phƣơng pháp thủy nhiệt”. Bằng việc sử dụng phương pháp thủy nhiệt, nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng các chất hoạt động bề mặt khác nhau đến hình thái, cấu trúc, tính chất của vật liệu tạo ra và khả năng quang xúc tác phân hủy một số dung dịch màu hữu cơ trong nước 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu chế tạo thành công vật liệu nano V2O5 bằng phương pháp thủy nhiệt sử dụng các chất hoạt động bề mặt khác nhau (CTAB, SDS, P123…).
4 - Khảo sát và đánh giá được ảnh hưởng của các chất hoạt động bề mặt khác nhau lên hình thái, cấu trúc, tính chất và khả năng quang xúc tác phân hủy chất màu hữu cơ của vật liệu V2O5 chế tạo được. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4. Đối tƣợng nghiên cứu - Vật liệu V2O5 - Phương pháp chế tạo và khảo sát tính chất của vật liệu nano V2O5 4. Phạm vi nghiên cứu - Vật liệu nano V2O5 chế tạo bằng phương pháp thủy nhiệt sử dụng các chất hoạt động bề mặt khác nhau (CTAB, SDS, P123…).
- Các phép đo khảo sát tính chất của vật liệu: hình thái, cấu trúc, tính chất; khả năng quang xúc tác phân hủy dung dịch màu hữu cơ 5. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5. Cách tiếp cận. Nghiên cứu lý thuyết → thiết kế quy trình công nghệ → chế tạo và khảo sát tính chất.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm kết hợp với nghiên cứu lý thuyết. Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm: - Thực nghiệm chế tạo vật liệu.