CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về β-amino alcohol 1. Tổng quan về β-amino alcohol Amino alcohol hay Alkanolamines là chất trung gian đa năng cho nhiều hợp chất hữu cơ trong việc tạo ra các hợp chất hoạt tính sinh học có nguồn gốc tự nhiên và tổng hợp.
Chúng được sử dụng rộng rãi như thuốc β-blocker, chất diệt côn trùng và tác nhân bất đối. [1] Amino alcohol là các hợp chất hóa học có chứa cả nhóm chức hydroxyl (- OH) và amino (-NH2, -NHR và -NR2) trên khung alkane, với nhóm hydroxyl ở vị trí β. Loại β-amino alcohol phổ biến nhất xuất hiện trong các hợp chất tự nhiên có chứa tiểu phân β-amino alcohol là hydroxy amino acid. Ví dụ, nhóm kháng sinh vancomysin (Hình 1.4) chứa gốc aryl serine và chất chống nấm sphingofungin (Hình 1.5) chứa một gốc hydroxy amino acid ở đầu phân cực.
Một nhóm khác của các sản phẩm có hoạt tính sinh học tự nhiên là amino alcohol mạch vòng, như quinine được sử dụng trong điều trị bệnh sốt rét. Một nhóm quan trọng của rượu amin mạch vòng là polyhydroxylated alkaloid, còn được gọi là đường aza, ví dụ castanospermine được phát hiện là chất ức chế mạnh các α- và β-glucosidase. Các peptidomimetic tạo thành một nhóm lớn các amino alcohol có hoạt tính dược lý được sản xuất tổng hợp, phổ biến nhất là các chất ức chế Renin và HIV-1 protease, ví dụ như Saquinavir. Các amino alcohol có hoạt tính sinh học[1] Hình 1.
Các dẫn xuất nhóm sphingoid[1] 2-aminoalcohol đại diện cho một loạt các thuốc β-adrenergic blocker được sử dụng rộng rãi trong điều trị các rối loạn tim mạch, bao gồm tăng huyết áp, chứng đau thắt ngực, rối loạn nhịp tim và các rối loạn khác liên quan đến hệ thần kinh giao cảm. Sự linh hoạt trong tính chất này cũng là tiền đề để tổng hợp các chất đối kháng thụ thể β2-Adrenergic, tác nhân chống HIV, chất balanol ức chế protein kinase C, chất ức chế glycosidase, thuốc chống sốt rét,…[1] 1. Hoạt tính sinh học của β-amino alcohol Hoạt tính phổ biến nhất của các β-amino alcohol là đóng vai trò làm β- blocker. Tất cả các β-blocker chia sẻ một cơ chế chung, đó là sinh ra ái lực để liên kết với β-AR.
Chúng được xếp vào nhóm các chất đối kháng (antagonist).[2] 10 Thụ thể β-Adrenergic là một coupled G protein (GCPR), thành viên trong họ protein màng (membrane protein), gồm 7 chuỗi xoắn alpha-helix. β-AR là trung tâm điều hòa chức năng tim. Khi ligand (với β-AR là epinephrine hoặc norepinephrine) liên kết và hoạt hóa, GPCR tương tác với các G protein dị hóa nội bào để truyền các kích thích ngoại bào vào bên trong tế bào. Sau đó, các G protein tiếp tục truyền các tín hiệu này đến các bộ hiệu ứng xuôi dòng thích hợp (trong trường hợp này là adenylyl cyclase) cung cấp cho con đường tín hiệu nội bào, chuyển hóa ATP thành cAMP.
[3, 4] Dựa theo kết quả của nhiều nghiên cứu, cơ chế hoạt động của các β-blocker là không đồng nhất. Theo nguyên tắc cơ bản, β-blocker đối kháng kích thích adrenergic của β-AR một cách cạnh tranh thông qua sự tương đồng về cấu trúc của chúng với các catecholamine.[2] Catecholamine hoạt hóa thụ thể beta dẫn tới tăng sản xuất cAMP từ ATP, hoạt hóa protein kinase A (PKA) làm mở các kênh canxi đi vào tại màng tế bào làm tăng co bóp cơ tim. PKA cũng làm giảm ái lực của myosin và actin, tăng hấp thu canxi tại lưới nội bào, do đó làm tăng thư giãn tế bào cơ tim. β-blocker làm giảm nhịp dẫn đến giảm phân suất tống máu của tim.
Con đường tín hiệu của β-Adrenergic trong tế bào ung thư[4] Hình 1. Tương tác của cyanopindolol trong β1-AR[5] 12 Năm 2018, Miguel M.Vaidergorn và cộng sự đã thử hoạt tính các β-amino alcohol ở cấp độ tế bào, với các amine có độ dài mạch khác nhau để đánh giá ảnh hưởng của chúng đến hoạt tính kháng u.[6] Những hợp chất này đã thử nghiệm với ba dòng tế bào ung thư vú: MCF-10, tế bào khỏe mạnh; MCF-7, tế bào ung thư đáp ứng với hormone; MDA-MB-231, tế bào ung thư âm tính ba lần. Kết quả các chỉ số tác động đến tế bào được so sánh với cisplastin – một loại thuốc được kê đơn cho bệnh nhân ung thư vú giai đoạn cuối hoặc kháng thuốc.[6] Kết quả của nghiên cứu cho thấy, ở amine, mạch alkyl càng dài thì hoạt tính càng cao, chỉ số chọn lọc cũng tăng dần theo độ dài mạch alkyl. Hơn nữa, amine có vòng thơm sẽ tổng hợp ra những β-amino alcohol có hoạt tính và độ chọn lọc cao hơn hẳn so với amine no.
Bệnh ung thư vú Đã có nghiên cứu cho thấy thụ thể toll-like receptor 4 (TLR4) gây ra tín hiệu tiền viêm có liên quan trực tiếp đến nhiễm trùng huyết nặng. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng một vài dẫn xuất của β-amino alcohol có khả năng ngăn chặn các tín hiệu gây ra bởi TLR4. Các nghiên cứu về mối quan hệ cấu trúc sơ bộ cho thấy rằng sự thay đổi của nhóm chức trên cả hai vòng aryl (Hình 1.9) có thể làm tăng hiệu lực. Nghiên cứu trên TLR4[7] Một nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng các hợp chất β-amino alcohol có khả năng ngăn chặn nội độc tố LPS gây ra phản ứng viêm ở cả tế bào đại thực bào và mẫu máu người.
Bệnh viêm khớp Theo một nghiên cứu về sự di căn ung thư, các mạch máu mới thâm nhập vào các khối u cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho chúng để tăng cường sự phát triển và di căn của khối u.[8] 14 Phương pháp ức chế sự hình thành mạch thông qua ức chế thụ thể yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu 2 (VEGFR-2) đã được ứng dụng trong điều trị ung thư vì vai trò quan trọng của nó trong việc thúc đẩy sự phát triển và di căn của ung thư. Các amino alcohol là beta-blocker có tác dụng về điều trị tim, mạch nên có tiềm năng ức chế được VEGFR-2.[8] β-amino alcohol cũng thể hiện hoạt tính kháng nấm và vi sinh vật. Một nghiên cứu của K. Chennakesava Rao và cộng sự [9] về hoạt tính kháng vi sinh vật của một số β-amino alcohol đã tiến hành sàng lọc bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa in vitro và trong đó một số đã thể hiện hoạt tính đáng kể chống lại vi sinh vật và nấm.
Phương pháp ghép nối phân tử (docking) cũng được sử dụng trong nghiên cứu trên với receptor là DNA topoisomerase IV, để giải thích cho cơ chế hoạt tính đã thể hiện. Một nghiên cứu khác, Caneschi và đồng nghiệp đã tổng hợp ra một số beta-amino alcohol là dẫn xuất của amine thơm hoạt tính đáng chú ý kháng nấm móng (Onychomycosis) nhưng đồng thời mang theo hoạt tính gây độc tế bào. [10] Mới gần đây (2022), Baker và đồng nghiệp đã thử nghiệm hoạt tính chống nấm của gần 50 beta-amino alcohol khác nhau và cho thấy một số hợp chất có hoạt tính kháng vi khuẩn gram dương S. aureus và loài nấm men C.
[11] Kết quả này cũng tương đương với nhóm các beta-amino alcohol có chứa nhân benzofuran của Tafelska-Kaczmarek và đồng nghiệp. Một vài β-amino alcohol đã được dùng làm thuốc Cấu trúc phân tử Tên biệt dược Tác dụng dược lý H OH Atenolol - Điều trị các bệnh tim N O O mạch, huyết áp NH2 - Hỗ trợ điều trị ung thư vú, ung thư máu HN Carazolol - Điều trị rối loạn nhịp tim, đau thắt ngực, O N tăng huyết áp, tăng H OH nhãn áp, đau nửa đầu 15 HN Pindolol - Điều trị rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp O N H - Điều trị trầm cảm OH Propanolol - Điều trị tăng huyết áp O N - Điều trị u máu lành H OH tính - Điều trị bỏng nguy kịch Bảng 1.Một vài β-amino alcohol đã được dùng làm thuốc 1. Tổng quan về phương pháp sàng lọc ảo 1. Phương pháp sàng lọc ảo Trong nghiên cứu tổng hợp các hoạt chất làm thuốc mới, việc dự đoán được hoạt tính sinh học của chất sẽ tiết kiệm cả về thời gian và chi phí cho các nghiên cứu.
Do đó các nhà khoa học đã tạo ra các phương pháp sàng lọc ảo (Virtual screening), trong đó có phương pháp ghép nối phân tử.[13] Phương pháp ghép nối phân tử (molecular docking) được sử dụng rộng rãi trong việc sàng lọc ảo hàng triệu phân tử để khám phá các hợp chất mới có hoạt tính sinh học. Thông qua việc ghép nối phân tử, có thể nghiên cứu cấu trúc 3D của các phối tử (ligand) và phân tích các cấu trúc và định hướng có thể có của chúng bên trong protein. Các mô phỏng cũng cung cấp chức năng cho điểm (score) như một phép đo ái lực giả định giữa phối tử và protein hữu ích để thiết lập xếp hạng cho các hợp chất khác nhau đang được nghiên cứu. [13] Vì lý do này, phương pháp sàng lọc ảo không chỉ có thể áp dụng cho việc xác định khả năng gắn kết mà còn trong việc thiết kế và tối ưu hóa các dẫn xuất mới trước khi tiến hành tổng hợp.
Quy trình sàng lọc ảo bằng phương pháp ghép nối phân tử Để thực hiện sàng lọc ảo bằng phương pháp docking, ta cần sử dụng các phần mềm chuyên dụng trên máy tính. Một số phần mềm dùng để sàng lọc ảo trên thị trường hiện nay: DOCK, Auto Dock, FRED, GOLD, ICM Dock, MOE Dock,… 16 Mỗi chương trình sử dụng các thuật toán khác nhau và có ưu nhược điểm riêng. Trong số các chương trình này, AutoDock Vina, GOLD và MOE Dock đã dự đoán các vị trí docking với kết quả chính xác nhất. Các protein này được các nhà khoa học tách ra và phân tích từ cá thể sống cụ thể, vì vậy trong cấu trúc sẽ có thể lẫn các protein trùng lặp, các ligand, phân tử nước … • Tìm cấu trúc phân tử của ligand đang nghiên cứu trên thư viện số ZINC, hoặc tự thiết kế trên ChemDraw, Chemsketch.
• Sau khi thiết lập thuật toán và các điều kiện cần thiết trên phần mềm docking, tiến hành docking các ligand trên các vùng có hoạt tính của protein. Giao diện ứng dụng MOE Dock Sau khi phần mềm hoàn thành quá trình docking, ta thực hiện thu thập và xử lý các số liệu. Một số thông tin và số liệu quan trọng để đánh giá là: • Vị trí ligand: các liên kết của ligand với protein thuộc loại gì, tại vị trí amino acid nào và các thông số liên quan. 17 • Docking score: điểm tổng kết các thông số mà phần mềm đánh giá, đồng thời là năng lượng liên kết tự do của phối tử.
• Binding energy – Năng lượng liên kết: năng lượng tạo thành các liên kết. • Binding affinity – Ái lực liên kết: thể hiện sự ưu tiên hình thành liên kết.