Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tội xâm phạm chỗ ở của người khác trong luật hình sự Việt Nam" của tác giả Đặng Trần Tâm Quý (người hướng dẫn khoa học: ThS. Đào Phương Thanh, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023) được thực hiện trong bối cảnh công cuộc đổi mới đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền đặt con người vào vị trí trung tâm, bảo đảm các quyền con người và quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Cụ thể, Điều 22 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định: "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý".

Theo Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 của Bộ Tư pháp, tình hình tội phạm có diễn biến phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi. Bên cạnh các vi phạm như bắt, giam giữ người trái pháp luật hoặc đối xử bất bình đẳng giới, hành vi xâm phạm chỗ ở của công dân diễn ra tương đối phổ biến ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, việc điều tra, truy tố và xét xử tội danh này trong thực tiễn còn hạn chế về số lượng và thiếu tính triệt để. Các cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc nhận diện dấu hiệu định tội, định khung hình phạt, dễ dẫn đến nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý không đúng bản chất hành vi xâm phạm quyền tự do, dân chủ.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể nhằm:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề pháp lý cơ bản về tội xâm phạm chỗ ở của người khác trong khoa học luật hình sự Việt Nam (khái niệm, ý nghĩa, lịch sử lập pháp).
  2. Phân tích chi tiết quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội phạm này thông qua bốn yếu tố cấu thành tội phạm và các khung hình phạt; phân biệt với các tội phạm liên quan.
  3. Đánh giá thực tiễn xét xử, chỉ ra các vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả xét xử.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật hình sự về tội xâm phạm chỗ ở của người khác, trọng tâm là Điều 158 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan, các tài liệu nghiên cứu khoa học và các bản án thực tiễn. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian trải dài từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, tập trung sâu vào giai đoạn áp dụng BLHS năm 2015 và thực tiễn xét xử các vụ án trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2022 trên phạm vi cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận của khoa học luật hình sự Việt Nam về bốn yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) và lý thuyết về quyền con người, quyền công dân. Văn bản pháp lý nền tảng được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 22).
  • Các văn bản lịch sử: Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945, Hiến pháp năm 1946 (Chương II), Sắc luật 234 ngày 14/6/1955, Luật số 101-SL-L003 ngày 20/5/1957, Sắc luật số 003-SL ngày 18/6/1957, Luật số 103-L005 ngày 20/5/1957, Sắc luật số 002-SL ngày 18/6/1957.
  • Bộ luật Hình sự qua các thời kỳ: Điều 120 BLHS năm 1985, Điều 124 BLHS năm 1999, Điều 158 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cùng các điều khoản chung liên quan (Điều 8, Điều 10, Điều 12, Điều 21, Điều 51, Điều 343).
  • Bộ luật Tố tụng hình sự (Điều 8, Điều 140, Điều 141, Điều 143, Điều 192).
  • Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi năm 2013, Điều 12) và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP (Điều 5).
  • Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Khoản 9 Điều 2) và Nghị định số 167/2013/NĐ-CP (Điều 13, Điều 15).

Nghiên cứu tham khảo các giáo trình và công trình bình luận khoa học tiêu biểu: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2019, 2022) và Học viện Tư pháp (năm 2011); sách bình luận khoa học BLHS năm 2015 của nhóm tác giả TS. Lê Đăng Doanh - PGS. Cao Thị Oanh (năm 2017), GS. Nguyễn Ngọc Hòa (năm 2017); các công trình nghiên cứu về tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của TS. Trần Minh Hưởng (năm 2003, 2010).

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là các phương pháp truyền thống của khoa học pháp lý:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm và các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Điều 158 BLHS năm 2015 với Điều 120 BLHS năm 1985, Điều 124 BLHS năm 1999 và phân biệt với Điều 343 BLHS năm 2015.
  • Phương pháp lịch sử: Rà soát tiến trình lập pháp hình sự bảo vệ chỗ ở từ năm 1945 đến nay.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn và phân tích bản án: Xem xét các vụ án cụ thể để chỉ ra vướng mắc trong áp dụng quy định.

Nguồn dữ liệu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp và các bản án hình sự thực tế được ban hành bởi Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện:

  • Bản án số 112/2020/HS-PT ngày 09/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
  • Bản án số 28/2022/HS-ST ngày 08/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
  • Bản án số 161/2020/HS-PT ngày 26/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
  • Bản án số 313/2020/HS-PT ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Bản án số 70/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội.
  • Bản án số 101/2022/HS-ST ngày 22/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
  • Hồ sơ vụ việc đình chỉ khởi tố vụ án tại số nhà 111 Bà Hom, Phường 13, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Các vấn đề chung về tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về quyền bất khả xâm phạm chỗ ở và tội xâm phạm chỗ ở của người khác, đồng thời khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua bốn giai đoạn:

  1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý: Tác giả xác định chỗ ở là nơi diễn ra các sinh hoạt thường ngày của công dân, nơi cá nhân cảm nhận được sự tự do mà không bị gò bó. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác được định nghĩa là hành vi khám xét trái pháp luật chỗ ở, đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của người khác. Tội danh có năm đặc điểm cơ bản: thuộc nhóm xâm phạm quyền tự do dân chủ; biểu hiện qua các hành vi khám xét, đuổi, chiếm giữ, cản trở, xâm nhập trái phép; không thuộc trường hợp xâm hại quyền sở hữu tài sản; do cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và đủ tuổi luật định thực hiện; thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.
  2. Lịch sử hình thành và phát triển:
    • Giai đoạn 1945 đến trước năm 1985: Nhà nước non trẻ tạm thời áp dụng luật lệ cũ theo Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 nếu không trái với chủ trương cách mạng, đồng thời ban hành các văn bản đơn hành bảo vệ quyền công dân như Hiến pháp 1946 (Điều 4 đến Điều 16), Luật số 103-L005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân.
    • Giai đoạn BLHS năm 1985: Lần đầu tiên tội phạm được quy định thành một tội danh độc lập tại Điều 120, quy định các hành vi khám xét trái phép, đuổi trái phép hoặc hành vi khác xâm phạm chỗ ở với khung hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm; trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
    • Giai đoạn BLHS năm 1999: Quy định tại Điều 124, bổ sung tại khoản 2 các tình tiết định khung tăng nặng: có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, gây hậu quả nghiêm trọng (phạt tù từ một năm đến ba năm); bổ sung hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ từ một năm đến năm năm tại khoản 3.
    • Những điểm mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Đổi tên điều luật từ "Tội xâm phạm chỗ ở của công dân" thành "Tội xâm phạm chỗ ở của người khác" nhằm tương thích với Điều 22 Hiến pháp 2013 và mở rộng bảo vệ quyền con người đối với cả người nước ngoài, người không quốc tịch. Cụ thể hóa hành vi tại khoản 1 bằng việc bổ sung hai nhóm hành vi: chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở/quản lý hợp pháp vào chỗ ở; xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác. Đồng thời, bỏ hình phạt cảnh cáo, nâng mức cải tạo không giam giữ lên đến 02 năm, phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Tại khoản 2, bổ sung tình tiết phạm tội 02 lần trở lên, cụ thể hóa tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng thành "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" và "làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát", đồng thời tăng mức hình phạt tù lên từ 01 năm đến 05 năm.

Chương 2: Tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo quy định của Bộ luật hình sự 2015

Chương 2 phân tích các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo Điều 158 BLHS năm 2015:

  1. Khách thể của tội phạm: Khách thể là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của người khác. Đối tượng tác động là chỗ ở hợp pháp của người khác (nhà ở thường xuyên, nhà thuê, phòng khách sạn, nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú, chỗ ở cố định hoặc di động như tàu, thuyền). Bản án số 112/2020/HS-PT của TAND tỉnh Lâm Đồng được dẫn chứng: bị cáo Lê Thị Thanh Th ra lệnh khiêng toàn bộ đồ đạc của bà Lê Thị Kim Ch ra sân rồi dọn đồ của mình vào và khóa cửa lại, xâm phạm trực tiếp đến nơi cư trú hợp pháp đã được đăng ký thường trú của người khác.
  2. Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp theo quy định tại Điều 10 BLHS năm 2015). Người phạm tội nhận thức rõ tính trái pháp luật của hành vi xâm phạm chỗ ở nhưng vẫn mong muốn thực hiện hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra. Động cơ và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản. Bản án số 28/2022/HS-ST của TAND huyện Mỹ Lộc minh họa lỗi cố ý của bị cáo Trần Quang M và TL.H khi thực hiện khóa cổng, xô đẩy, đuổi bà Nguyễn Thị N ra khỏi nhà do tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất đai.
  3. Mặt khách quan của tội phạm: Tội danh có cấu thành tội phạm hình thức. Tội phạm hoàn thành ngay khi người phạm tội thực hiện một trong bốn hành vi:
    • Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác (không có thẩm quyền hoặc có thẩm quyền nhưng không có căn cứ, không tuân thủ thủ tục theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự).
    • Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ (dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác buộc người khác rời khỏi nơi ở mà không có quyết định hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền).
    • Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ.
    • Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác (tự ý vào chỗ ở mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp).
  4. Chủ thể của tội phạm: Là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên (khoản 1 Điều 12 BLHS). Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS về tội này do đây không thuộc nhóm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê tại khoản 2 Điều 12. Trường hợp chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ để thực hiện hành vi thì chịu khung hình phạt tăng nặng theo khoản 2.
  5. Phân biệt Tội xâm phạm chỗ ở của người khác (Điều 158) và Tội vi phạm quy định về quản lý nhà ở (Điều 343 BLHS năm 2015):
Tiêu chí phân biệt Tội xâm phạm chỗ ở của người khác (Điều 158 BLHS) Tội vi phạm quy định về quản lý nhà ở (Điều 343 BLHS)
Khách thể Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của con người, công dân Trật tự quản lý hành chính của Nhà nước về lĩnh vực nhà ở
Hành vi khách quan Khám xét, đuổi, chiếm giữ, cản trở hoặc xâm nhập trái pháp luật vào chỗ ở của người khác Chiếm dụng chỗ ở trái phép hoặc xây dựng nhà ở trái phép
Điều kiện tiền sự/tiền án Cấu thành hình thức, không bắt buộc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị kết án trước đó Phải là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Tính chất chỗ ở Bảo vệ thực tế quyền cư trú, sinh hoạt của cá nhân Gắn liền với trật tự quy hoạch, cấp phép xây dựng và quản lý quỹ nhà ở của Nhà nước

Chương 3: Thực tiễn xét xử của tội xâm phạm chỗ ở của người khác và một số kiến nghị

Chương 3 tổng kết các đặc điểm từ thực tiễn áp dụng pháp luật, phân tích những vướng mắc và đưa ra các đề xuất hoàn thiện:

  1. Đặc điểm thực tiễn xét xử:
    • Tỷ lệ tội phạm bị xét xử chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số các tội phạm hình sự, nhưng năm nào cũng phát sinh án.
    • Nhân thân bị cáo: Tỷ lệ cán bộ, công chức bị xét xử rất nhỏ. Phần lớn người phạm tội ở độ tuổi thanh niên và trung niên (Bản án 28/2022/HS-ST: các bị cáo sinh năm 1981, 1984, 1990, 1993; Bản án 112/2020/HS-PT: bị cáo sinh năm 1972; Bản án 161/2020/HS-PT: bị cáo sinh năm 1971).
    • Tòa án áp dụng chính sách xử lý linh hoạt: Trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, bồi thường thiệt hại được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ (như Bản án 313/2020/HS-PT của TAND TP. Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N 06 tháng cải tạo không giam giữ).
    • Nguyên nhân phát sinh tội phạm chủ yếu xuất phát từ: mâu thuẫn tranh chấp dân sự, đất đai, nhà đất chưa giải quyết dứt điểm; người phải thi hành án gặp khó khăn về chỗ ở sau khi bị cưỡng chế đã tự ý quay lại phá khóa vào ở (Bản án số 70/2022/HS-ST tại huyện Quốc Oai); hoặc hành vi cố ý dọn đồ, bật nhạc đám ma để gây áp lực đòi bàn giao đất (Bản án số 101/2022/HS-ST tại huyện Hải Hậu).
  2. Bốn nhóm vướng mắc từ thực tiễn áp dụng Điều 158 BLHS năm 2015:
    • Vướng mắc phân định chế tài hành chính và hình sự: Điểm h khoản 4 Điều 13 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP xử phạt 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thuê bảo vệ dùng vũ lực xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp; Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP xử phạt 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi chiếm giữ trái phép tài sản. Pháp luật chưa có tiêu chí ranh giới rõ ràng về mức độ để phân biệt hành vi nào chỉ xử lý hành chính, hành vi nào truy cứu TNHS theo Điều 158.
    • Vướng mắc áp dụng tình tiết định khung "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội": Đây là tình tiết mang tính định tính, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về tiêu chí đánh giá, cơ quan xác nhận hay phân hóa mức độ ảnh hưởng (chưa phân biệt mức độ xấu, rất xấu, đặc biệt xấu).
    • Thiếu căn cứ xử lý các trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng khác: Việc bãi bỏ tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng" của BLHS 1999 khiến các hậu quả thực tế như vô ý làm chết người ngoài trường hợp dùng vũ lực, gây thương tích, thiệt hại tài sản lớn, hoặc làm nạn nhân phải đi lang thang, bỏ học chưa được định khung thỏa đáng tại khoản 2 Điều 158.
    • Bất cập trong việc thống nhất định nghĩa "chỗ ở": Khái niệm chỗ ở theo Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 chưa xác định rõ thời điểm một địa điểm trở thành chỗ ở của cá nhân. Điển hình là vụ việc tại số 111 Bà Hom (Quận 6, TP. Hồ Chí Minh): ông Đinh Văn Hữu đã hoàn thành thủ tục sang tên nhà đất và nhận bàn giao, nhưng khi bị người nhà chủ cũ phá khóa chiếm giữ, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 đã hủy quyết định khởi tố vụ án với lý do ông Hữu chưa thực tế sinh sống ngày nào tại căn nhà này.
  3. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    • Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn phân định rõ ranh giới giữa chế tài hành chính và trách nhiệm hình sự đối với các hành vi mô tả tại Điều 158.
    • Hướng dẫn cụ thể tình tiết định khung "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội", quy định rõ thẩm quyền xác nhận của Công an cấp xã hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã dựa trên các tiêu chí: số lượng người tham gia, thời gian diễn ra hành vi, mức độ xáo trộn an ninh địa phương.
    • Bổ sung tình tiết "Gây hậu quả nghiêm trọng khác" vào khoản 2 Điều 158 BLHS để bao quát các trường hợp gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe (ngoài vũ lực), tài sản, hoặc làm đời sống nạn nhân bị đảo lộn nghiêm trọng.
    • Liên ngành tư pháp trung ương sớm ban hành hướng dẫn thống nhất giải thích khái niệm "chỗ ở", theo hướng bảo vệ quyền chỗ ở thực tế của người đang cư trú mà không phân biệt chỗ ở đó là hợp pháp hay bất hợp pháp, nhằm giữ vững trật tự an toàn xã hội.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Trần Tâm Quý ghi nhận các kết quả cụ thể dựa trên việc tổng hợp văn bản pháp luật và án văn thực tế:

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình tiến hóa của quy định pháp luật hình sự về tội xâm phạm chỗ ở qua các mốc: các văn bản giai đoạn 1945–1957, Điều 120 BLHS năm 1985, Điều 124 BLHS năm 1999 và Điều 158 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Làm sáng tỏ các điểm mới mang tính tiến bộ của Điều 158 BLHS năm 2015: mở rộng nội hàm đối tượng bảo vệ từ "công dân" sang "người khác"; bổ sung hai hành vi khách quan mới (chiếm giữ/cản trở người khác vào chỗ ở; xâm nhập trái phép chỗ ở); sửa đổi hệ thống chế tài tăng nặng (bỏ cảnh cáo, nâng mức trần tù từ 03 năm lên 05 năm ở khung tăng nặng).
  • Khảo sát thực tế qua sáu vụ việc/bản án hình sự cụ thể (tại Nam Định, Lâm Đồng, Bình Dương, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), chỉ ra cơ cấu nhân thân người phạm tội chủ yếu là người thành niên, trung niên và nguyên nhân phạm tội chủ yếu xuất phát từ các tranh chấp dân sự, đất đai kéo dài hoặc cưỡng chế thi hành án.
  • Tác giả tự xác định đóng góp khoa học của đề tài: Trong khi các giáo trình và sách chuyên khảo trước đây chỉ nghiên cứu tội danh này một cách khái quát trong cụm các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ, khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu, độc lập; chỉ ra bốn điểm nghẽn pháp lý thực tiễn và cung cấp các luận cứ khoa học để hoàn thiện kỹ thuật lập pháp cho Điều 158 BLHS năm 2015.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận chủ yếu tiếp cận số liệu thông qua các bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật được công bố rải rác tại một số địa phương (Nam Định, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bình Dương) mà chưa có số liệu thống kê toàn diện mang tính toàn quốc về số lượng thụ lý, khởi tố, xét xử tội danh này trong từng năm. Bên cạnh đó, các giải pháp phòng ngừa xã hội ngoài lĩnh vực lập pháp hình sự mới chỉ được nêu ở mức khái quát, chưa đi sâu vào cơ chế phối hợp cụ thể trong công tác quản lý cư trú của lực lượng công an cơ sở.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát số liệu tư pháp trên quy mô toàn quốc để đánh giá biến động của tội danh theo từng giai đoạn; nghiên cứu so sánh quy định xử lý hành vi xâm phạm chỗ ở trong luật hình sự của các quốc gia khác; xây dựng bộ tiêu chí định lượng hóa chi tiết cho các tình tiết mang tính định tính tại Điều 158 BLHS.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự: Tham khảo cấu trúc phân tích bốn yếu tố cấu thành tội phạm hình thức và phương pháp phân biệt các tội danh có dấu hiệu hành vi tương đồng (Điều 158 và Điều 343 BLHS).
  • Người làm đề tài nghiên cứu về quyền tự do dân chủ: Khai thác tài liệu hệ thống hóa lịch sử lập pháp từ năm 1945 và các bản án thực tiễn giai đoạn 2020-2022.
  • Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán: Tham khảo các phân tích thực tiễn tại Chương 3 về ranh giới giữa tranh chấp dân sự, xử lý vi phạm hành chính (theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP) và truy cứu trách nhiệm hình sự, đặc biệt là cách xử lý vướng mắc đối với khái niệm "chỗ ở" và tình tiết "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội".

Câu hỏi thường gặp

  1. Điều 158 BLHS năm 2015 đã sửa đổi cụm từ "chỗ ở của công dân" thành "chỗ ở của người khác" nhằm mục đích gì?
    Việc thay đổi này nhằm cụ thể hóa Điều 22 Hiến pháp năm 2013 ("Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở"), mở rộng phạm vi và đối tượng bảo vệ của luật hình sự đối với quyền con người của mọi cá nhân sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả người nước ngoài và người không quốc tịch, thay vì chỉ giới hạn ở công dân Việt Nam như Điều 124 BLHS năm 1999.

  2. Tại sao tội xâm phạm chỗ ở của người khác lại được xếp vào nhóm tội phạm có cấu thành hình thức?
    Tội danh này có cấu thành hình thức vì hành vi xâm hại tác động trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở – một quyền phi vật chất được pháp luật bảo vệ. Do đó, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi được mô tả trong điều luật (khám xét, đuổi, chiếm giữ, cản trở, xâm nhập trái pháp luật) là tội phạm đã hoàn thành, không bắt buộc phải có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra.

  3. Vụ việc tại số 111 Bà Hom (Quận 6, TP. Hồ Chí Minh) phản ánh vướng mắc gì về mặt định tội danh?
    Vụ việc phản ánh sự thiếu thống nhất trong việc xác định thế nào là "chỗ ở": người mua đã hoàn tất thủ tục sang tên hợp pháp và nhận bàn giao nhà nhưng chưa thực tế dọn về sinh sống ngày nào. Khi người nhà chủ cũ phá khóa chiếm giữ nhà, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 đã yêu cầu hủy quyết định khởi tố vụ án vì cho rằng người mua chưa ở nên hành vi chiếm giữ không cấu thành tội xâm phạm chỗ ở của người khác.

  4. Khóa luận đề xuất bổ sung tình tiết nào vào khung hình phạt tăng nặng tại khoản 2 Điều 158 BLHS năm 2015?
    Tác giả đề xuất bổ sung tình tiết "Gây hậu quả nghiêm trọng khác" vào khoản 2 Điều 158 BLHS năm 2015 để xử lý các hệ quả thực tế phát sinh ngoài vũ lực như: vô ý làm chết người, gây thương tích, tổn hại sức khỏe, hủy hoại tài sản giá trị lớn, hoặc đẩy nạn nhân và gia đình vào hoàn cảnh phải đi lang thang, bỏ học.

  5. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội xâm phạm chỗ ở của người khác được quy định như thế nào?
    Căn cứ Điều 12 BLHS năm 2015, tội xâm phạm chỗ ở của người khác có khung hình phạt cao nhất là 05 năm tù (thuộc loại tội phạm nghiêm trọng). Do đó, chỉ người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu TNHS về tội này; người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS đối với tội phạm quy định tại Điều 158.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Trần Tâm Quý đã nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo Điều 158 BLHS năm 2015. Bằng phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý kết hợp phân tích các bản án hình sự thực tế, công trình đã làm rõ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, chỉ ra các vướng mắc về tiêu chí phân định chế tài hành chính - hình sự và khái niệm chỗ ở. Các kiến nghị hoàn thiện điều luật và hướng dẫn áp dụng được đề xuất có giá trị thực tiễn rõ nét, đóng góp cơ sở khoa học cho hoạt động lập pháp và thực tiễn xét xử tại Việt Nam.