Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SỰ CHUYỂN PHA TINH THỂ LỎNG 1.1 Tinh thể lỏng 1.1 Khái niệm Tinh thể lỏng (liquid crystal) là những chất mang trạng thái của vật chất nằm giữa trạng thái lỏng của chất lỏng (liquid) và trạng thái tinh thể (crystal) của chất rắn, nên có một số tính chất của cả hai chất. Tóm gọn lại, tinh thể lỏng là một pha trung gian (mesophase) giữa pha lỏng và pha rắn. Về mặt tính chất, tinh thể lỏng có thể chảy như một dòng chất lỏng, nhưng các phân tử có thể sắp xếp một cách trật tự hay định hướng như của tinh thể rắn. Ngoài ra một số chất tinh thể lỏng còn thay đổi màu của mình.
Vào cuối thế kỷ 19, khi mà ba trạng thái cơ bản của vật chất là rắn, lỏng và khí đều đã được biết đến, một nhà sinh học và thực vật học là Friedrich Reinitzer đã phát hiện ra một dạng vật chất mới lạ. Năm 1888, ông phát hiện ra hợp chất C34 H50 O2 (cholesteryl benzoate) có tới hai điểm nóng chảy.5°C hợp chất nóng chảy thành chất lỏng có màu đục như sữa. Tiếp tục làm nóng đến nhiệt độ 178.5°C, chất lỏng trên sẽ trở nên trong suốt. Ông cũng nhận thấy quá trình này có tính thuận nghịch.
Sau khi đun nóng, nếu để chất lỏng trên để nguội dần, màu xanh và tím vốn có của hợp chất xuất hiện nhanh chóng rồi biến mất, thay vào đó là chất lỏng với màu đục sữa. Tiếp tục hạ nhiệt, màu xanh và tím lại xuất hiện nhanh chóng rồi trở thành một tinh thể màu trắng [34]. Từ đó ta có thể thấy, các vật liệu tinh thể lỏng không phải lúc nào cũng ở trạng thái lỏng. Dưới sự tác động của môi trường hoặc nhiệt độ, chúng có thể thay đổi pha cấu trúc, dẫn đến sự thay đổi các tính chất vật lý sẽ được trình bày ở mục tiếp theo.2 Phân loại tinh thể lỏng Tinh thể lỏng có thể được chia ra thành nhiều loại: thermotropic, lyotropic, poly- meric.
Tinh thể lỏng thermotropic: là loại tinh thể lỏng được cấu tạo bởi các phân tử dạng que dài. Pha của chúng thay đổi theo nhiệt độ, ví dụ như pha nematic, smectic và cholesteric,. Các pha đó tồn tại trong một khoảng nhiệt độ xác định. Ở nhiệt độ thấp, các tinh thể lỏng loại này sẽ tạo thành các tinh thể thông thường.
Khi nhiệt độ tăng cao, tinh thể lỏng thermotropic có thể đi qua các pha nematic hay smectic, cuối cùng là trở thành chất lỏng đẳng hướng isotropic. Tinh thể lỏng lyotropic: là loại tinh thể lỏng có pha thay đổi theo nồng độ. Chúng được cấu tạo bằng cách hòa tan mesogen1 lưỡng phần2 vào trong dung môi và điều kiện nhiệt độ áp suất thích hợp. Tinh thể lỏng lyotropic được quan tâm và nghiên cứu nhiều trong lĩnh vực sinh học [23].
Tinh thể lỏng metallotropic: là một số loại tinh thể lỏng được hình thành từ các hợp chất vô cơ có độ nóng chảy thấp (ví dụ như ZnCl2 ). Việc bổ sung các phân tử giống xà phòng với chuỗi phân tử dài dẫn đến việc tạo ra nhiều pha mới với các dạng tinh thể lỏng khác nhau. Sau đây chúng ta sẽ điểm qua một số pha phổ biến của tinh thể lỏng loại ther- motropic, và một trong số đó cũng là pha được sử dụng để nghiên cứu trong luận văn này. a) Pha Nematic Có thể coi đây là một cấu trúc pha phổ biến và đơn giản nhất của tinh thể lỏng.
Các phân tử thuộc pha này có dạng hình que, hoặc thanh. Từ “nematic” bắt nguồn từ “nema” có nghĩa là “sợi chỉ” trong tiếng Hy Lạp. Trong pha này, các phân tử được sắp xếp không có trật tự về mặt vị trí nhưng lại có trật tự tầm xa về mặt định hướng như được mô tả trong Hình 1. Nói cách khác, có thể dễ dàng nhận thấy tuy chúng sắp xếp hỗn độn nhưng lại có định hướng khá song song với nhau theo một trục nào đó, thường được biểu diễn (một cách trung bình) bởi vector ⃗n.
Hầu hết các phân tử tinh thể lỏng nematic đều đơn trục, chúng có trục chính dài hơn và được ưu tiên hơn, trục còn lại là các trục thứ cấp. Các phân tử này nếu được điều chỉnh thích hợp thì có các đặc tính quang học của tinh thể đơn trục. Chính điều này góp phần làm nên tính chất của màn hình tinh thể lỏng LCD. 1 Mesogen là hợp chất thể hiện các đặc tính của tinh thể lỏng 2 Lưỡng phần (Amphiphilic) là hợp chất hữu cơ chứa cả thành phần ưa nước và kỵ nước 2 Hình 1.1: Pha Nematic [10] b) Pha Smectic Pha smectic được tìm thấy ở nhiệt độ thấp hơn so với pha nematic.
Giống với pha nematic, các phân tử trong pha smectic cũng không có trật tự về mặt vị trí nhưng lại có trật tự về mặt định hướng, ngoài ra chúng được sắp xếp thành các lớp riêng biệt và có thể trượt lên nhau. Từ “smectic” bắt nguồn từ “smecticus” có nghĩa là “làm sạch”, hoặc “xà phòng” trong tiếng Hy Lạp. Pha smectic được chia ra thành nhiều dạng nhỏ hơn, nhưng phổ biến nhất là ba dạng smectic A, smectic B và smectic C. Các phân tử trong pha smectic A có xu hướng vuông góc với các mặt phẳng chứa chúng (Hình 1.2a); pha smectic B có định hướng vuông góc với mặt phẳng giống smectic A nhưng các phân tử sắp xếp theo mạng hình lục giác (Hình 1.2c); trong khi đó các phân tử trong pha smectic C có xu hướng nghiêng đi một góc θ khác 0 (Hình 1.2: Ba pha thường gặp của pha Smectic 3 c) Pha Cholesteric Pha Cholesteric, hay có tên gọi khác là pha nematic xoắn.
Nó có tên gọi như vậy vì nó được tìm thấy lần đầu trong dẫn xuất của cholesterol bởi F. Tuy vậy, pha cholesteric cũng tồn tại ở các chất không liên quan đến cholesterol. Các phân tử này có sự tương đồng với pha nematic vì không có trật tự vị trí và có trục định hướng. Tuy nhiên, các phân tử này có xu hướng xếp chung với nhau thành một cụm trong một lớp mỏng (không giống với các lớp tách biệt hoàn toàn như pha Smectic) và vector định hướng ⃗n không như nhau trong toàn không gian phân tử, mà thay đổi từ lớp này sang lớp khác, tạo thành một cấu trúc xoắn có tính tuần hoàn.
Chúng có trật tự vị trí ổn định và chia thành các lớp rõ rệt giống với pha smectic C như đã trình bày ở mục 1.2b, tuy nhiên giữa các lớp không có sự định hướng chung mà thay đổi liên tục. Dọc theo trục chính này, các vector định hướng tạo thành hình xoắn ốc (có thể coi các vector định hướng này tiến động dọc theo trục chính). Đó là khoảng cách mà trục định hướng của phân tử tinh thể lỏng trở lại định hướng ban đầu, tức là thay đổi một góc 2π. Khái niệm này có thể được hiểu tương đương với khái niệm bước sóng trong lĩnh vực sóng cơ và sóng điện từ, là khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm dao động cùng pha.
Tuy nhiên về mặt cấu trúc, chúng đã lặp lại mỗi một nửa pitch vì hướng 0 hay ±π là tương đương với nhau. Các pitch này có thể thay đổi khi nhiệt độ thay đổi hoặc thêm các phân tử khác vào hệ tinh thể lỏng. Trong một vài hệ tinh thể lỏng, độ dài này có cùng cỡ bước sóng ánh sáng thông thường. Chúng lại được chia thành hai dạng nhỏ hơn là Discotic Nematic nếu chúng sắp xếp không có trật tự giống pha Nematic (Hình 1.6a), Discotic Columnar nếu các phân tử được xếp chồng lên nhau tạo thành các cột có trật tự về định hướng (Hình 1.
(a) Pha Discotic Nematic (b) Pha Discotic Columnar Hình 1.6: Hai pha thường gặp của pha Discotic (Nguồn ảnh: Wikipedia) 1.3 Ứng dụng Sự khám phá tinh thể lỏng đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà vật lý, tuy nhiên mọi thứ khi đó chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu thuần túy. Chính vì có nhiều tính chất quang học đặc biệt và thú vị nên đến giữa thế kỷ 20 tinh thể lỏng được nghiên cứu nhiều trở lại và ứng dụng vào khoa học kỹ thuật trong nhiều năm, nổi bật nhất 5 là màn hình tinh thể lỏng (LCD - Liquid Crystal Display) đã dần thay thế các loại màn hình sử dụng ống tia âm cực (CRT - Cathode Ray Tube). Màn hình LCD đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất các thiết bị điện tử như tivi, laptop, điện thoại. Màn hình LCD được cấu tạo bởi tấm đèn nền, hai tấm kính phân cực đặt song song với nhau nhưng trục phân cực vuông góc với nhau, tấm lọc màu RGB, một lớp tinh thể lỏng nematic xoắn (được trình bày ở mục 1.2c) và các điện cực.
Nguyên lý hoạt động của màn hình LCD khá đơn giản: nếu chỉ có hai tấm phân cực thì ánh sáng trắng từ tấm đèn nền đi qua tấm phân cực đầu tiên sẽ bị phân cực tuyến tính và bị chặn hoàn toàn ở lớp kính phân cực thứ hai. Với việc xuất hiện lớp tinh thể lỏng nematic xoắn ở giữa hai tấm phân cực (được điều chỉnh để có độ xoắn 1/4 p), ánh sáng phân cực đi qua tấm thứ nhất sẽ có thành phần phân cực được “xoắn” theo các phân tử tinh thể lỏng, khiến ánh sáng thoát ra được khỏi tấm phân tích thứ hai và đưa ra màn hình. Mỗi một điểm ảnh trên màn hình (pixel) lại được chia thành ba điểm ảnh con (sub-pixel) gồm ba hệ thống kính phân cực và tinh thể lỏng, được gắn với ba tấm lọc màu RGB (Hình 1.7: Cấu tạo một điểm ảnh (Nguồn ảnh: Wikipedia) Các điện cực đặt ở hai đầu tấm phân cực để tạo ra một điện trường ngoài, có tác dụng “bẻ thẳng” lại các phân tử nematic xoắn (khiến chúng trở thành phân tử nematic thông thường), khiến ánh sáng không truyền qua được. Vì vậy, việc ánh sáng có đi qua được các tấm lọc màu hay không dựa theo việc “xoắn” hay “không xoắn” của phân tử nematic, hay nói cách khác là sự đóng-mở các điện cực (Hình 1.
Sự phối trộn màu giữa ba điểm ảnh con sẽ quyết định màu sắc ở điểm ảnh đó (ví dụ màu đen là khi cả ba subpixel đều tắt, màu trắng là khi cả ba subpixel đều bật). 6 (a) Điện cực mở, áng sáng được (b) Điện cực đóng, ánh sáng bị truyền qua chặn lại Hình 1.