Chương 1: Lý luận chung về vốn chủ sở hữu và hiệu quả vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức quản lý sử dụng vốn chủ sở hữu tại Công ty Cổ phần Sông Đà 9. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả vốn chủ sở hữu tại Công ty Cổ phần Sông Đà 9 4 z CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ VỐN CHỦ SỞ HỮU CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Lý luận chung về vốn chủ sở hữu 1. Khái niệm vốn chủ sở hữu Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Vốn là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho người lao động. Từ đó, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường, mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp. Số vốn này bao gồm vốn góp ban đầu khi doanh nghiệp mới thành lập và số vốn bổ sung thêm hay giảm bớt trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Vốn chủ sở hữu là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất kinh doanh, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng, thể hiện trên các mặt sau: - Vốn có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Vì vốn là một yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Vốn đóng vai trò quyết định mở rộng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đổi mới quy trình công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, góp phần tăng năng suất lao động và giảm giá thành chi phí của doanh nghiệp. 5 z - Vốn là một nguồn lực quan trọng để phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp, nó là một điều kiện để thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh, nó cũng là “dầu nhớt” bôi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động.
- Vốn là yếu tố về giá trị. Như vậy, doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ nhu vầu về vốn kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động về tài chính, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo sức cạnh tranh. Còn ngược lại, nếu vốn không được bảo tồn và tăng lên trong mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất vốn. Sự thiệt hại lớn dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, sẽ làm cho doanh nghiệp bị phá sản, tức là vốn đã bị sử dụng một cách lãng phí, không có hiệu quả.
Đặc điểm của vốn Căn cứ vào khái niệm và vai trò của vốn ở trên, ta có thể thấy vốn có những đặc trưng cơ bản sau: - Vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản: Điều này có nghĩa vốn là sự biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình như: Nhà xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai, bằng phát minh, sáng chế. Với tư cách này các tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng nó không bị mất đi mà thu hồi được giá trị. - Vốn luôn vận động để sinh lời: Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để trở thành vốn thì đồng tiền phải được đưa vào hoạt động kinh doanh để sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị- là tiền.
Đồng vốn đến điểm xuất phát mới với giá trị lớn hơn. Đó cũng là nguyên tắc đầu tư, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn. Nói một cách khác, vốn trong quá trình tuần hoàn luôn có ở giai đoạn của quá trình tái sản xuất và thường xuyên chuyển từ dạng này sang dạng khác. Các giai đoạn này được lặp đi lặp lại theo một chu kỳ, mà sau mỗi chu kỳ vốn được đầu tư nhiều hơn.
Chính yếu tố này đã tạo ra sự phát triển của các doanh nghiệp theo quy luật tái sản xuất mở rộng. 6 z - Trong quá trình vận động vốn không tách rời chủ sở hữu: Mỗi đồng vốn đều có chủ sở hữu nhất đinh, nghĩa là không có những đồng vốn vô chủ, ở đâu có đồng vốn vô chủ thì ở đó sẽ có sự chi tiêu, lãng phí, kém hiêu quả. Ở đây cần có sự phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, đó là hai quyền năng khác nhau. Tuỳ theo hình thức đầu tư mà người sở hữu và người sử dụng vốn có thể đồng nhất hay tách rời.
Song, dù trường hợp nào đi chăng nữa, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và phải được tôn trọng quyền sở hữu vốn của mình. Có thể nói đây là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong việc huy động, quản lý và sử dụng vốn. Nó cho phép huy động được vốn nhàn rỗi trong dân cư vào sản xuất kinh doanh, đồng thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Nhận thức được đặc trưng này sẽ giúp doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng: Muốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, vốn phải được tập trung thành một lượng đủ lớn để mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất và chủ động trong các phương án sản xuất kinh doanh. Muốn làm được điều đó, các doanh nghiệp không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn của mình, mà phải tìm cách thu hút vốn từ nhiều nguồn khác như phát hành thêm cổ phiếu, góp vốn liên doanh, liên kết. - Vốn có giá trị về mặt thời gian: Một đồng hôm nay có giá trị hơn giá trị đồng tiền ngày hôm sau, do giá trị của đồng tiền chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: đầu tư, rủi ro, lạm phát, chính trị. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, vấn đề này không được xem xét kỹ lưỡng vì Nhà nước đã tạo ra sự ổn định của đồng tiền một cách giả tạo trong nền kinh tế.
Trong điều kiện kinh tế thị trường cần phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, bởi do ảnh hưởng sự biến động của giá cả thị trường, lạm phát. nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm là khác nhau. - Vốn là loại hàng hoá đặc biệt: Những người sẵn có vốn có thể đưa vốn vào thị trường, còn những người cần vốn thì đi vay. Nghĩa là những người đi 7 z vay được quyền sử dụng vốn của người cho vay.
Người đi vay phải mất một khoản tiền trả cho người cho vay. Đây là một khoản chi phí sử dụng vốn mà người đi vay phải trả cho người cho vay, hay nói cách khác chính là giá của quyền sử dụng vốn. Khác với các loại hàng hoá thông thường khác, “ hàng hoá vốn “ khi bán đi sẽ không mất quyền sử hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất đinh. Việc mua bán này diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung- cầu về vốn trên thị trường.
- Trong nền kinh tế thị trường, vốn không chỉ được biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình như: Vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền, phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường thì khoa học kỹ thuật, công nghệ cũng phát triển mạnh mẽ. Điều này làm cho tài sản vô hình ngày càng đa dạng phong phú, đóng góp một phần không nhỏ trong việc tạo ra khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Các bộ phận cấu thành vốn chủ sở hữu Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp quản lý vốn và sử dụng vốn có hiêu quả là nội dung quan trọng nhất, có tính chất quyết định đến mức độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp.
Do vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ta cần phải nắm được vốn có những loại nào, đặc biệt nó vận động ra sao. Bản thân vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm nhiều bộ phận hợp thành mà mỗi bộ phận hợp thành lại có nguồn gốc hình thành, tính chất và mức độ biến động khác nhau. Vì thế sự biến động của từng bộ phận vốn hợp thành sẽ ảnh hưởng đến sự biến động chung của vốn chủ sở hữu. Trong một doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu thường được sử dụng cho hoạt động kinh doanh và vốn chủ sở hữu sử dụng cho mục đích chuyên dùng khác.
Vốn chủ sở hữu sử dụng cho hoạt động kinh doanh Vốn chủ sở hữu sử dụng cho hoạt động kinh doanh là bộ phận vốn chủ sở hữu được sử dụng cho hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác phục 8 z vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là bộ phận chủ yếu tạo nên số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Thuộc vốn chủ sở hữu sử dụng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: - Vốn đầu tư của chủ sở hữu: phản ánh tổng số vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp. Số vốn này được các chủ sở hữu góp ban đầu khi mới thành lập doanh nghiệp và bổ sung thêm hay rút bớt trong quá trình hoạt động kinh doanh.
- Thặng dư vốn cổ phần: Là chỉ tiêu phản ánh số chênh lệch giữa giá thực tế phát hành cổ phiếu với mệnh giá cổ phiếu. Nếu giá phát hành cổ phiếu > mệnh giá cổ phiếu, phần chênh lệch chính là thặng dư phát hành; ngược lại, nếu giá phát hành cổ phiếu < mệnh giá cổ phiếu, phần chênh lệch chính là chiết khấu phát hành. Thặng dư phát hành làm tăng vốn chủ sở hữu; ngược lại chiết khấu phát hành làm giảm vốn chủ sở hữu. - Vốn khác của chủ sở hữu: Chỉ tiêu này phản ánh số vốn chủ sở hữu khác của doanh nghiệp.