CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH TỘI PHẠM DO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN TRONG GIAI ĐOẠN 2014 – 2019 1. Nhận thức chung về NNN phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam 1. Khái niệm người nước ngoài Việc xác định NNN trên thế giới hiện nay thường được phân chia theo hai trường phái: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, người nước ngoài là tất cả những người không có quốc tịch của nước sở tại.
Tức là những người đang cư trú tại một quốc gia nhưng mang quốc tịch của một quốc gia khác và những người không có quốc tịch hoặc quốc tịch chưa xác định. Khái niệm này được nêu trong pháp luật của nhiều quốc gia như Canada, Ailen, Ba Lan… Theo nghĩa hẹp, NNN là người có quốc tịch của một quốc gia nước ngoài nhưng không phải là công dân của nước sở tại. Theo nghĩa này, những người không có quốc tịch hoặc quốc tịch chưa xác định sẽ không thuộc diện người nước ngoài. Đồng thời trong những trường hợp người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch nước sở tại thì mặc nhiên được coi là công dân nước sở tại mà không phải là người nước ngoài.
Khái niệm này thường được nêu trong pháp luật của các quốc gia thừa nhận chế độ tồn tại song song của hai hay nhiều quốc tịch như Anh, Pháp, Úc, Hoa Kỳ. Còn đối với Việt Nam, từ trước đến nay trong các văn bản pháp luật của Nhà nước cũng tồn tại nhiều thuật ngữ khác nhau dùng để chỉ NNN như: “Người ngoại quốc”, “Ngoại kiều”… Đến năm 1993, Pháp lệnh về việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đã xác định: “ Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, có quốc tịch nước ngoài hoặc không có quốc tịch”. Từ năm 2000 đến nay, theo Điều 3 Pháp lệnh số 24/1999/PL-UBTVQH10 về Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 10 thông qua ngày 28/04/2000 (gọi tắt là Pháp lệnh năm 2000) đã xác định: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam”. Đây là cơ sở pháp lý để xác định NNN của Việt Nam hiện nay, tuy nhiên trên thực tế việc vận dụng cơ sở pháp lý này để xác định vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang quốc tịch nước sở tại nhưng chưa thôi quốc tịch Việt Nam… Mặt khác khi xác định NNN, chúng ta không chỉ căn cứ vào cơ sở pháp lý mà còn phải xem xét, đánh giá một 6 luan an cách cụ thể trong mối quan hệ giữa con người với xã hội cũng như các yếu tố tác động qua lại, nhất là yếu tố cư trú, hoạt động tại Việt Nam… Luật số 47/2014/QH13 được Quốc hội khóa 13 nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 16/06/2014 đã khẳng định: “Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam”.
Theo quy định của luật quốc tế, người nước ngoài được hiểu đó là: Người không mang quốc tịch của quốc gia nơi mà mình sinh sống. Nếu theo quy định này chúng ta thấy: một người có thể có một quốc tịch, cũng có thể có hai hay nhiều quốc tịch, và cũng có thể một người không có quốc tịch của một quốc gia nào, họ chỉ trở thành người nước ngoài khi họ hoặc không mang quốc tịch của nước sở tại họ đang sinh sống hoặc họ là người không có quốc tịch. Pháp luật của mỗi nước quy định về địa vị pháp lý của người nước ngoài phù hợp với các nguyên tắc cơ bản và những quy phạm của luật quốc tế và những điều ước quốc tế mà nước đó là thành viên, theo quy định của Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý được ký kết giữa nước đó và các nước thành viên khác. Trong thực tế, NNN đến Việt Nam cư trú, hoạt động với rất nhiều lý do, mục đích khác nhau, thời hạn cư trú của họ có thể ngắn hoặc dài và được hưởng những quyền ưu đãi, miễn trừ khác nhau.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho NNN cư trú, hoạt động tại Việt Nam và công tác quản lý NNN tại Việt Nam, Pháp luật đã quy định có 02 nhóm người như sau: - Nhóm người thường trú: Là những NNN cư trú không thời hạn tại Việt Nam, gồm người lưu trú, lao động, đầu tư, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam như: Ngoại kiều, người tị nạn. Theo quy định của Pháp luật, họ được Cục Quản lý Xuất nhập cảnh – Bộ Công an cấp thẻ thường trú. - Nhóm người tạm trú: Là NNN cư trú có thời hạn tại Việt Nam. Tuy nhiên căn cứ vào việc được hưởng các quy chế ưu đãi, hạn chế của luật Quốc tế và pháp luật Việt Nam, nhóm người này được phân chia thành hai loại: + Nhóm những người được hưởng quy chế ngoại giao và quy chế tương tự, hay còn gọi là những người được hưởng quyền ưu đãi về miễn trừ ngoại giao, lãnh sự, tổ chức quốc tế.
+ Nhóm người được hưởng quy chế ưu đãi nhưng không thuộc quy chế ngoại giao, lãnh sự, tổ chức quốc tế như: chuyên gia, lưu học sinh, nhà đầu tư, khách du lịch… 7 luan an Theo quy định, những người thuộc diện này được cơ quan Quản lý Xuất nhập cảnh – Bộ Công an cấp thẻ tạm trú hoặc giấy chứng nhận tạm trú. NNN cư trú trên lãnh thổ quốc gia đồng thời chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật quốc gia sở tại và hệ thống pháp luật của quốc gia mà họ mang quốc tịch. Trong một số trường hợp, quyền và nghĩa vụ của NNN trên lãnh thổ quốc gia còn được quy định trong các điều ước quốc tế được kí kết giữa các quốc gia hoặc tập quán quốc tế. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, Luật Quốc tịch năm 2018 và các văn bản quy phạm pháp luật khác đã được ban hành nhằm điều chỉnh các vấn đề về dân cư.
Nhà nước ta cũng đã ký nhiều điều ước quốc tế như các Hiệp định lãnh sự, Hiệp định tương trợ tư pháp trong các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình và hình sự, tham gia các Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa năm 1966… góp phần nâng cao hiệu quả của việc điều chỉnh pháp lý về các vấn đề dân cư nói chung và NNN nói riêng. Việc phân chia NNN cư trú theo các nhóm nói trên có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi, địa bàn cư trú, lĩnh vực hoạt động cũng như công tác phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh và xử lý tội phạm do NNN thực hiện. Khái niệm về người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam Hiện nay trong khoa khoa học pháp lý hình sự chưa có khái niệm về người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Để xác định tội phạm do người nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam cần dựa vào quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Cụ thể là Điều 5 BLHS 2015 về Hiệu lực của BLHS. Người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam trước hết phải là người nước ngoài được xác định trên ccơ sở luật quốc tịch. Bên cạnh đó, người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt nam còn phải đảm bảo các điều kiện sau: Thứ nhất, họ phạm một tội được quy định trong BLHS Việt Nam hoặc được quy định trong luật hình sự quốc tế. Điều đó có nghĩa nếu người nước ngoài thực hiện hành vi mà luật hình sự Việt Nam hoặc luật hình sự quốc tế không quy định là tội phạm thì họ không được coi là phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam.
Thứ hai, họ phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Lãnh thổ Việt Nam theo Bộ luật Hình sự Việt Nam được hợp thành bởi ba bộ phận: + Lãnh thổ có thực: bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời thuộc chủ quyền của Việt Nam. + Lãnh thổ mở rộng: Tàu thủy mang cờ hiệu của Việt Nam đang ngoài vùng 8 luan an biển quốc tế, máy bay dân dụng mang cờ hiệu của Việt Nam trên đường bay. Tàu chiến, máy bay quân sự của Việt Nam đang ở bất cứ nơi nào.
+ Lãnh sự quán, Đại sứ quán của Việt Nam ở nước ngoài. Hành vi được coi là phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam nếu bắt đầu hoặc kết thúc hoặc diễn ra trọn vẹn trong phạm vi không gian nói trên. Tuy nhiên, đối với đối tượng là người nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao là trường hợp ngoại lệ được quy định tại Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Hình sự: “Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao”. Như vậy, Bộ luật hình sự có các quy định ngoại lệ đối với các đối tượng được hưởng quyền miễn trừ tư pháp với hai nhóm như sau: + Theo pháp luật Việt Nam, theo hiệp định Quốc tế mà Việt Nam tham gia thì những đối tượng được hưởng các đắc quyền ngoại giao là thành viên của đoàn ngoại giao trở lên.
+ Theo thông lệ quốc tế thì vợ hoặc chồng hoặc con chưa thành niên của những người kể trên cũng được hưởng quyền miễn trừ tư pháp. Trên thế giới hiện nay còn có quan điểm cho rằng tội phạm người nước bao gồm người nước ngoài phạm tội mà tội đó được quy định trong luật hình sự quốc gia hoặc tội đó được quy định trong luật hình sự quốc tế. Trong phạm vi luận văn, cá nhân tôi chỉ nghiên cứu đối tượng nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt nam và tội phạm đó được quy định trong BLHS Việt Nam. Từ phân tích về người nước ngoài và người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam có thể đưa ra định nghĩa như sau: “Người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam là công dân, pháp nhân nước ngoài thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự Việt Nam quy định là tội phạm và tội phạm đó được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam”.