Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM HÓA VÀ PHI TỘI PHẠM HÓA 1. KHÁI NIỆM TỘI PHẠM, TỘI PHẠM HÓA VÀ PHI TỘI PHẠM HÓA Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Nhiệm vụ của pháp luật hình sự là nhằm bảo vệ các lợi ích của con người, của xã hội và của nhà nước, đồng thời góp phần bảo vệ hoà bình và an ninh của nhân loại khỏi sự xâm hại của tội phạm cũng như ngăn ngừa việc thực hiện tội phạm mới của những người đã thực hiện tội phạm nào đó và ngăn ngừa các thành viên khác trong xã hội thực hiện tội phạm (TP), đồng thời giáo dục các công dân có ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Để thực hiện được nhiệm vụ này, trong điều kiện nền kinh tế xã hội luôn có những biến động, thay đổi thì việc xác định loại hành vi như thế nào sẽ bị ghi nhận trong pháp luật hình sự là tội phạm (gọi là tội phạm hóa) và ngược lại, loại trừ khỏi pháp luật hình sự hiện hành loại hành vi nào đó (phi tội phạm hóa) luôn là một đòi hỏi lớn đối với nhà làm luật vì nếu thực hiện tội phạm hóa (TPH) hoặc phi tội phạm hóa (PTPH) một hành vi phạm tội nào đó không phù hợp thời điểm, không phù hợp quan điểm, quan niệm của xã hội, không phù hợp mục tiêu phát triển của đất nước sẽ dẫn đến tính chất răn đe của pháp luật bị xem nhẹ, tính nhân đạo của pháp luật bị lạm dụng và không đạt được mục tiêu phòng chống và ngăn ngừa TP 14 z Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, TPH và PTPH là hai quá trình trái ngược nhau nhưng rất cần thiết trong chính sách về pháp luật hình sự.
Đánh giá đúng tính chất nguy hiểm hoặc không còn nguy hiểm cho xã hội của từng loại hành vi vi phạm pháp luật để từ đó xác định có cần thiết sử dụng chế tài hình sự - loại chế tài mạnh nhất, nghiêm khắc nhất để áp dụng với chủ thể của hành vi là việc làm hết sức cần thiết. Để quản lý xã hội bằng pháp luật thì bất kỳ một chính sách pháp luật (CSPL) nào do nhà nước soạn thảo ra đều nhất thiết nhằm vào một hoặc nhiều mục đích nhất định căn cứ vào hướng triển khai chính sách tương ứng trong đời sống xã hội. Chính sách hình sự (CSHS) bao gồm một phạm vi rộng lớn rất nhiều vấn đề mà khoa học pháp lý về tư pháp hình sự của nước ta có nhiệm vụ phải làm sáng tỏ về mặt lý luận bản chất của chúng. Trong khoa học Luật hình sự các vấn đề của CSHS từ lâu đã được các nhà nước quan tâm, ở nước ta vấn đề này hiện còn nhiều quan niệm khác nhau về CSHS.
Theo quan điểm của GS. Đào Trí úc, CSHS là một bộ phận của CSPL, bởi vì đó là những định hướng, những chủ trương trong việc sử dụng pháp luật hình sự và lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm [21, tr 17]. Phạm Thư thì CSHS là những định hướng, chủ trương, đường lối có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước để giải quyết các vấn đề hình sự trong việc sử dụng pháp luật hình sự vào lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm. CSHS là một bộ phận cấu thành của CSPL nên CSHS sự vừa gắn bó hữu cơ với chính sách pháp luật vừa mang những đặc tính chung của CSPL và nó có mối liên hệ chặt chẽ với đường lối, chính sách xã hội chung của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của xã hội [34; tr 56].
15 z Hoặc theo một sách chuyên khảo hiện nay, TS. Phạm Văn Lợi và tập thể tác giả quan niệm về CSHS, căn cứ các yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như sau: “CSHS trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền là một phần của chính sách xã hội nói chung, đồng thời là CSPL trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng và bao gồm tổng thể bốn chính sách - chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật tố tụng hình sự và chính sách pháp luật thi hành án hình sự - với tính cách là những phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm đảm bảo thực hiện tốt đường lối xử lý về hình sự, góp phần đưa các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền vào đời sống thực tế, giáo dục công dân ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tiến tới xây dựng thành công nhà nước pháp quyền ở Việt Nam [21, tr 24]. Trên cơ sở này, theo quan điểm của chúng tôi, CSHS là chính sách của nhà nước trong lĩnh vực tội phạm và hình phạt với mục đích hoàn thiện và tăng cường năng lực cho pháp luật hình sự phục vụ cho việc đấu tranh và phòng ngừa tôị phạm. Đối tượng nghiên cứu cơ bản của chính sách hình sự bao gồm các vấn đề: TPH và PTPH; hình sự hóa (HSH) và phi hình sự hóa (PHSH); việc áp dụng các quy phạm pháp luật có tính chất đánh giá hoặc lựa chọn (tùy nghi); chính sách phòng ngừa TP; chính sách pháp luật hình sự; chính sách pháp luật tố tụng hình sự; chính sách pháp luật thi hành án hình sự và đường lối xử lý về hình sự.
TPH và PTPH là đối tượng nghiên cứu quan trọng đầu tiên của CSHS. Đó là hai quá trình khác nhau và trái ngược nhau. Khái niệm tội phạm Tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính chất hình sự - pháp lý, có nguồn gốc và nguyên nhân từ xã hội. Mặt khác, tội phạm là một phạm trù lịch sử, nó gắn liền với Nhà nước và giai cấp.
Khái niệm tội phạm cũng luôn vận động và biến đổi cùng với những vận động của xã hội. Nghiên cứu hành vi tội phạm là nghiên cứu những hành vi mang tính cá biệt, phản xã hội của con người. Người ta có thể tiếp cận vấn đề tội phạm từ nhiều góc độ khác nhau của các ngành khoa học khác nhau. Khái niệm tội phạm còn là một nền tảng quan trọng của lý luận về tội phạm, nắm vững khái niệm này giúp phân biệt chính xác và có căn cứ khoa học các loại tội phạm để từ đó phân loại các cấu thành tội phạm cụ thể trong phần riêng luật hình sự góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ hữu hiệu các quyền và tự do của con người trong các mối quan hệ với các cơ quan tư pháp hình sự.
Tội phạm là một hiện tượng xã hội - pháp lý gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật cũng như với sự sở hữu tư nhân và sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng. Trong quá trình xây dựng pháp luật của nước ta, các nhà nghiên cứu khoa học luật hình sự đã đưa ra rất nhiều quan điểm, khái niệm về tội phạm Bên cạnh những đặc điểm truyền thống được ghi nhận giống như trong khái niệm tội phạm của BLHS của nhiều nước trên thế giới là: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự thì trong khái niệm tội phạm của BLHS Việt Nam năm 1999 các nhà làm luật còn quy định thêm tính có năng lực TNHS của chủ thể như là đặc điểm của tội phạm. Có thể nói đây là đặc điểm chưa từng được quy định trong luật hình sự của nhiều nước. 17 z Tội phạm là một chế định chủ yếu và quan trọng, đồng thời là một trong những phạm trù cơ bản của Luật hình sự, tuy nhiên có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm này.
Theo PGS-TS Trần Văn Độ: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ cao hơn các vi phạm pháp luật khác” [ Trần Văn Độ - Bộ luật hình sự 1999 và một số vấn đề về tội phạm - 134] Theo quy TS Phạm Văn Lợi thì tội phạm được định nghĩa như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện có lỗi và bị Bộ luật HÌnh sự quy định phải chịu hình phạt” [Tiến sĩ Phạm Văn Lợi - Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam - 136] Định nghĩa khoa học của bất kỳ một khái niệm, phạm trù hoặc hiện tượng pháp luật nào phải đáp ứng được bốn tiêu chí: Chặt chẽ về mặt logic; Chính xác về mặt ngôn ngữ; Ngắn gọn về mặt cấu trúc; Đầy đủ về mặt nội dung. Như vậy một khái niệm khoa học về tội phạm phải đầy đủ các dấu hiệu trên ba khía cạnh: khách quan, chủ quan và hình thức. Theo quan điểm của Giáo sư - Tiến sĩ Khoa học Lê Cảm: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý) [ Lê Cảm – Chuyên khảo: Những vấn đề cơ bản về Luật hình sự - 297] Như vậy, từ các định nghĩa về tội phạm tham khảo trên, định nghĩa của Giáo sư Lê Cảm là có tính tổng quát và phản ảnh được đầy đủ nội hàm của khái niệm tội phạm về mặt nội dung (chỉ ra được bản chất xã hội – xâm hại đến những khách thể được nhà nước bảo vệ bằng pháp luật hình sự) và 18 z mặt hình thức (chỉ ra được bản chất pháp lý - được quy định trong pháp luật hình sự.) Hơn nữa khái niệm tội phạm trên đã thể hiện được đầy đủ cả ba khía cạnh tương ứng với năm dấu hiệu của tội phạm là: a) Mặt khách quan (nội dung) – Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) Mặt pháp lý (hình thức) – Tội phạm là hành vi trái pháp luật; c)Mặt chủ quan – Tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự - Đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự - Thực hiện một cách có lỗi. Như vậy, khái niệm tội phạm là nền tảng quan trọng của lý luận về tội phạm, chúng có vai trò quan trọng trong công cuộc củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ hữu hiệu các quyền tự do của con người trong các mối quan hệ với các cơ quan tư pháp hình sự.