Chương 1: Những vấn đề lý luận về phạm vi và điều kiện trách nhiệm hình sự của pháp nhân Chương 2: Quy định về phạm vi và điều kiện trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện và bảo đảm áp dụng quy định pháp luật về phạm vi và điều kiện trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại 6 PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài 1. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân Về quan điểm bản chất quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân Hiện nay, có hai quan điểm cơ bản khác nhau về bản chất quy định TNHS của pháp nhân.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, chỉ có cá nhân là chủ thể của tội phạm, việc quy định TNHS của pháp nhân chỉ có nghĩa bổ sung chủ thể thứ hai chịu TNHS về tội phạm do cá nhân thực hiện. Không có tội phạm thứ hai do pháp nhân thực hiện, do vậy, việc quy định TNHS của pháp nhân không phá vỡ tính ổn định của những quy định nền tảng vốn có về tội phạm và TNHS. Quan điểm này được thể hiện rõ nét trong các bài viết, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa4. Đồng quan điểm này, tác giả Đào Lệ Thu trong bài viết “Trách nhiệm hình sự của tổ chức trong luật hình sự Anh - So sánh và đề xuất với luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02+03 (402+403), tháng 2/2020, nêu ra sự bất cập về sự không thống nhất trong việc xác định bản chất TNHS của pháp nhân trong BLHS năm 2015.
Một số tác giả khác cũng thống nhất với quan điểm này, như tác giả Nguyễn Văn Hương trong bài viết “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo Bộ luật hình sự năm 2015”, Tạp chí Luật học số 4/2016; “Giáo trình Luật hình sự (Phần chung)” của Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân năm 2018; tác giả Vũ Văn Tư trong luận án tiến sỹ “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Luật hình sự Việt Nam” (bảo vệ năm 2023, Học viện Khoa học Xã hội); tác giả Lưu Hải Yến trong luận án tiến sỹ “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân dưới góc độ so sánh luật” (bảo vệ năm 2023, Trường Đại học Luật Hà Nội). 4 Xem: Nguyễn Ngọc Hòa (2016), Khái niệm tội phạm và việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015, Tạp chí Luật học số 2/2016; Nguyễn Ngọc Hòa (2017), Tính thống nhất giữa các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật hình sự năm 2015, Tạp chí Luật học số 3/2017; Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2020), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại - Nhận thức cần thống nhất?, Nxb. 7 Trong khi đó, quan điểm thứ hai cho rằng, pháp nhân không chỉ là chủ thể của TNHS mà còn là chủ thể của tội phạm, bởi pháp nhân là một thực thể có ý chí, có mong muốn riêng của mình, được xử sự tự do và hưởng quyền tự chủ như cá nhân con người và chính vì thế nó có năng lực thực hiện tội phạm một cách có lỗi.
Việc ghi nhận chế định TNHS của pháp nhân làm thay đổi tư duy có tính truyền thống về tội phạm và hình phạt, thậm chí, có thể phá vỡ hệ thống lý luận hình sự truyền thống. Tác giả Trịnh Quốc Toản trong “Chương 18. Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội - 2020, khẳng định “pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm”.
Tác giả cho rằng, pháp nhân hưởng ý chí độc lập chứ không phải chỉ là con số cộng ý chí tâm lý của cá nhân các thành viên trong tổ chức được pháp nhân hóa, nó có thể tự quyết định một cách tự do và theo đuổi những mục tiêu cụ thể của mình và độc lập với những lợi ích của cá nhân tạo nên pháp nhân đó. Tác giả Vũ Thị Thúy trong “Chương VII. Chủ thể của tội phạm” Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam năm 2019 cho rằng, pháp nhân là chủ thể tội phạm khi có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75.
Tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa trong bài viết “Hoàn thiện quy định về TNHS của pháp nhân thương mại phạm tội trong BLHS năm 2015”, Tạp chí Luật học số đặc biệt về BLHS năm 2015, khẳng định pháp nhân là chủ thể của tội phạm dựa vào Điều 2 và Điều 8 BLHS năm 2015. Dưới góc độ pháp luật tố tụng hình sự, tác giả Trịnh Tiến Việt trong bài viết “Mối liên hệ giữa quy định pháp nhân phạm tội với quy định thủ tục truy cứu TNHS pháp nhân và một số kiến nghị”, trong Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) Thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại và những vấn đề đặt ra khi thi hành Bộ luật tố tụng hình sự (hiện hành), Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật năm 2019, cho rằng việc pháp nhân thương mại được xác định là chủ thể của tội phạm trong BLHS năm 2015 là căn cứ cho việc xác định chủ thể tham gia thủ tục tố tụng hình sự, dựa trên khoản 1 Điều 433 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “Khi có đủ 8 căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân”. Tác giả Hoàng Thị Tuệ Phương trong “Chương XVI.
Trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội” Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam năm 2019 cho rằng, chế định TNHS của pháp nhân ở một mức độ rất lớn “thoát ly” khỏi cách thức truy cứu TNHS truyền thống đối với cá nhân. Tiếp đó, tác giả tán thành với nhận định sẽ thích hợp hơn khi nói rằng TNHS của pháp nhân được tạo ra hơn là nói rằng nó được rút ra từ lý thuyết truyền thống về TNHS; cũng như nhận định TNHS của pháp nhân tại các quốc gia tiên phong trong lĩnh vực này cho thấy sự dè dặt thường thấy ban đầu; nhưng khi cần thiết vẫn sẵn sàng vượt qua các rào cản về mặt học thuyết/ lý luận. Về các mô hình lý thuyết trách nhiệm hình sự của pháp nhân Hiện nay, có ba mô hình lý thuyết cơ bản được các học giả Việt Nam nghiên cứu, đề cập phổ biến tới là mô hình lý thuyết đồng nhất hóa; mô hình trách nhiệm thay thế và mô hình văn hóa pháp nhân.
Nhận định mô hình lý thuyết về cơ sở TNHS của pháp nhân áp dụng tại Việt Nam, tác giả Trịnh Quốc Toản trong “Chương 18. Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” Giáo trình Luật hình sự (Phần chung) của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2020 cho rằng, Việt Nam khi quy định TNHS của pháp nhân đã “nghiêng” về học thuyết đồng nhất hóa sự mong muốn tập thể với ý muốn cá nhân. Xuất phát từ sự tương tự hình thức giữa pháp nhân và cá nhân, nhà làm luật đã quy kết sự biểu lộ các quyết định của tập thể vào sự tồn tại một ý chí thống nhất trong cá nhân của người đại diện, người lãnh đạo của pháp nhân.
Khi những người này thực hiện chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân thì hành vi và ý chí của họ được đồng nhất hóa với pháp nhân, được coi là hành vi và ý chí của pháp nhân. Cùng nhận định này, tác giả Trần Văn Độ trong bài viết “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại”, Triển khai thi hành Bộ luật hình sự năm 2015, Nxb. Tư pháp năm 2018, cho rằng thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm được các nhà lập pháp Việt 9 Nam quy định là cơ sở quy định TNHS của pháp nhân thương mại. Tác giả Đào Lệ Thu trong bài viết “Trách nhiệm hình sự của tổ chức trong luật hình sự Anh - So sánh và đề xuất với luật hình sự Việt Nam” cho rằng, việc quy định TNHS của pháp nhân thương mại trong BLHS năm 2015 là sự thể hiện mô hình lý thuyết đồng nhất hóa và là sự tiếp thu một cách pha trộn kinh nghiệm quy định TNHS của pháp nhân ở một số quốc gia áp dụng mô hình này.
Tác giả Hoàng Thị Tuệ Phương trong “Chương XVI. Trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội” Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam năm 2019 cho rằng, Việt Nam áp dụng học thuyết đồng nhất hóa nhưng mở rộng phạm vi quy kết TNHS của pháp nhân rộng hơn học thuyết truyền thống này. Bởi vì, điểm a khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015 dùng khái niệm “nhân danh” pháp nhân có phạm vi rộng hơn người “đại diện”.
Tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa trong bài viết “Hoàn thiện quy định về TNHS của pháp nhân thương mại phạm tội trong BLHS năm 2015”, Tạp chí Luật học số đặc biệt về Bộ luật hình sự năm 2015 cho rằng, cách tiếp cận của Việt Nam là tích hợp những hạt nhân hợp lý của các mô hình lý thuyết đồng nhất hóa, mô hình trách nhiệm thay thế và mô hình văn hóa pháp nhân. Tác giả Nguyễn Ngọc Hòa trong sách chuyên khảo “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại - Nhận thức cần thống nhất?”, Nxb. Tư pháp năm 2020 không đưa ra nhận định Việt Nam áp dụng mô hình lý luận nào về TNHS của pháp nhân nhưng cho rằng, pháp nhân được coi là chủ thể thực hiện hành vi tổng hợp của tất cả các hành vi của các cá nhân; do vậy, pháp nhân phải chịu TNHS về “hành vi tổng hợp” của tất cả các cá nhân. Theo cách nhận định này, mô hình Việt Nam áp dụng gần gũi với mô hình lý thuyết tập hợp (aggregative theory).