CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 1.1 Khái niệm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức Từ khi Bộ Luật Hình sự (BLHS) năm 1985 ra đời cho đến nay, tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức đã có nhiều sự thay đổi về nội dung của điều luật. Những thay đổi qua các lần sửa đổi, bổ sung góp phần hoàn thiện quy định của BLHS qua các giai đoạn đối với tội danh này và việc áp dụng vào thực tiễn ngày càng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn những quan điểm và định nghĩa khác nhau đối với tội danh này, một trong số các quan điểm đó được thể hiện như sau: Theo Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các Tội phạm - Quyển 2, Trường Đại học Luật TP.HCM thì khái niệm đối với tội danh này được hiểu như sau: “Tội làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức là hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan tổ chức. Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật”.1 Quan điểm này được ra dựa trên quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và quan điểm này chỉ dựa trên hành vi làm giả của chính chủ thể làm giả nhằm mục đích để mình sử dụng hoặc để người khác sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả đó thực hiện hành vi trái pháp luật.
Hành vi khách quan của cả hai tội danh tuy khác nhau nhưng có chung đối tượng tác động là con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức và cả hai hành vi đều gắn với “hành vi trái pháp luật”. Còn theo Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần II phần các tội phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội thì “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức là hành vi tạo ra con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác giả mạo, không phải do cơ quan có thẩm quyền làm ra”.2 Quan điểm này được xây dựng và đưa ra dựa trên quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015. Theo đó tại Điều 341 đã tách hai hành vi “làm giả” và “sử 1 Trường Đại học Luật Tp.HCM (năm 2021), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các Tội phạm - Quyển 2), Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, trang 239. 2 Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2016), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần II phần các tội phạm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
9 dụng” thành hai tội danh, mỗi hành vi sẽ cấu thành một tội danh riêng biệt nếu người phạm tội thực hiện một hành vi thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về một hành vi tương ứng và ngược lại, nếu người phạm tội thực hiện cả hai hành vi thì sẽ bị truy cứu về hai tội danh đầy đủ là tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo Bình luận khoa học BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, tác giả Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng có định nghĩa như sau: “Tội làm giả con dấu, giấy tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức là hành vi làm ra con dấu, giấy tờ, tài liệu khác của cơ quan, tổ chức giống với con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thật của cơ quan tổ chức đó hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan tổ chức hoặc công dân”.3 Tác giả chưa đồng tình với quan điểm này, bởi lẽ Điều 341 BLHS năm 2015 đã tách hai hành vi “sử dụng” và “làm giả” thành hai tội, mặc dù được quy định trong cùng một điều Luật. Cũng như, Điều 341 đã bỏ đi yếu tố là “nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân” như quy định tại Điều 267 BLHS năm 1999 mà thay vào đó là việc “thực hiện hành vi trái pháp luật” và các giấy tờ được tạo ra (giấy tờ giả) phải được tạo ra từ cái có thật (con dấu, tài liệu, giấy tờ phải có thật) có thật mới có giả. Tuy nhiên, theo Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các Tội phạm - Quyển 2, Trường Đại học Luật TP.HCM cho rằng những con dấu, tài liệu bị làm giả có thể là của cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc không có thật.4 Cũng như Điều 341 BLHS năm 2015 cũng không dùng từ “công dân”.
Bởi, BLHS nói chung, và phạm vi tác động của hành vi được quy định tại Điều 341 nói riêng không chỉ điều chỉnh hành vi của công dân mà còn của cá nhân khác (bao gồm người không phải là công dân) đang sinh sống, học tập và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam. Chính vì vậy, xuất phát từ lý do này mà tác giả chưa đồng tình với quan điểm của các tác giả nêu trên. Từ những định nghĩa, khái niệm nêu trên và quan điểm, sự nhìn nhận, đánh giá của tác giả trong công tác nghiên cứu và làm thực tiễn của mình, tác giả đưa ra khái niệm về tội làm giả con dấu, tài liệu, giấy tờ của cơ quan tổ chức như sau: 3 Trần Văn Biên - Đinh Thế Hưng (năm 2019), Bình luận khoa học BLHS năm 2015 Sửa đổi bổ sung năm 2017, NXB Thế Giới. 4 Trường Đại học Luật Tp.HCM, tlđd (1), trang 240.
10 “Tội làm giả con dấu, tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức là hành vi tạo ra con dấu giả, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan tổ chức hoặc con dấu, tài liệu, giấy tờ không có thật để thực hiện hành vi trái pháp luật”.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức Khách thể của tội phạm Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức xâm phạm hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân.5 Đối tượng tác động của tội phạm này là con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức. Cơ quan, tổ chức nói trong điều luật này bao gồm cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế…6 Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 99/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu về giải thích từ ngữ có định nghĩa về con dấu như sau: “Con dấu là phương tiện đặc biệt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký, quản lý, được sử dụng để đóng trên văn bản, giấy tờ của cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước”.7 Mặc dù, Nghị định này không điều chỉnh đối với con dấu của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Bởi, các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Đầu tư nói chung sẽ tự khắc và quản lý sử dụng con dấu theo quy định của Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu tư, cũng như Điều lệ của doanh nghiệp mà không phải thông báo, hay đăng ký với cơ quan nhà nước quản lý về Doanh nghiệp và Đầu tư. Tuy nhiên, định nghĩa về con dấu của Nghị định số 99/2016/NĐ- CP nêu trên cũng giúp chúng ta có một khái niệm về con dấu nói chung và con dấu của cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước.
Bởi lẽ, các tổ chức, cơ quan không phải là cơ quan nhà nước như doanh nghiệp cũng sử dụng con dấu tổ chức, dấu chức danh để đóng lên văn bản do chính mình phát hành như Biên bản họp, Nghị quyết, Quyết định… Tài liệu, giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức là các tài liệu, giấy tờ do cơ quan, tổ chức đó ban hành, ví dụ: Hộ chiếu, hộ tịch, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, giấy 5 Trường Đại học Luật Tp.HCM, tlđd (1), trang 240. 6 Trường Đại học Luật Tp.HCM, tlđd (1), trang 240. 7 Nghị định số 99/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu. 11 phép lái xe, giấy khai sinh, thẻ thương binh, sổ bảo hiểm xã hội.8 Đối với tài liệu giả, giấy tờ giả, thì hiện nay không có quy định hay định nghĩa nào cụ thể về tài liệu giả, hay giấy tờ giả, mà chúng ta có thể ngầm hiểu rằng, giấy tờ, tài liệu giả là những loại giấy tờ được phát hành, tạo ra không bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hành.
Ví dụ như: 1 tờ chứng minh nhân dân không do cơ quan Công an cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp9, hoặc Hộ chiếu không do cục quản lý xuất nhập cảnh cấp hoặc Thẻ Luật sư không do Liên đoàn Luật Sư Việt Nam cấp. Như vậy, có thể hiểu rằng giấy tờ, tài liệu được phát hành không do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, chức năng phát hành thì sẽ bị coi là giả. Tuy nhiên, trên thực tế khi truy tố, xét xử để xác định giấy tờ giả, thời điểm, nội dung, hình thức của giấy tờ để được xem “giả” theo quy định của BLHS vẫn còn có những khó khăn. Có thể lấy ví dụ Giấy khám sức khỏe được làm giả với đầy đủ các đặc điểm giống Giấy khám sức khỏe thật về phôi, chữ ký, con dấu nhưng lại không điền thông tin người đi khám, trường hợp này có được xem là giấy tờ giả không? Như vậy, trường hợp này Giấy khám sức khỏe có thể được xác định là giấy tờ giả hay chưa? Theo quan điểm của tác giả xuất phát từ quy định của BLHS về hành vi khách quan thì Giấy khám sức khỏe nêu trên đã thỏa mãn yếu tố “giả”.
Bởi vì tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức có cấu thành hình thức và đối với trường hợp nêu trên việc làm ra giấy khám sức khỏe giả khi nó không phải do Bệnh viện có thẩm quyền làm ra thì tội phạm đã hoàn thành và chỉ chờ người có nhu cầu mua thì sẽ điền tên vào giấy khám sức khỏe để sử dụng nó. Mặt khách quan của tội phạm Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức có cấu thành hình thức. Mặt khách quan của tội phạm chỉ đòi hỏi dấu hiệu bắt buộc là hành vi.