Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng 1. Khái niệm tội hủy hoại rừng Môi trường thế giới nói chung và môi trường nước ta nói riêng đang bị suy thoái và ô nhiễm nặng nề. Trong những năm gần đây, chất lượng môi trường ngày càng trở nên xấu hơn, nguyên nhân do biến đổi khí hậu, do thiên tai xảy ra gây thiệt hại ngày càng lớn cùng với hành vi hủy hoại môi trường của con người.
Do đó, bảo vệ môi trường, phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi xâm hại đến môi trường trở thành vấn đề cấp bách. Trong đó, tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm hại đến sự bền vững và ổn định của môi trường; xâm hại đến các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường, gây ra những hậu quả xấu đối với môi trường sinh thái. Hủy hoại rừng là một trong các tội phạm về môi trường, theo khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (sau đây gọi là Luật BVMT năm 2014) quy định: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác”.
Do đó, để hiểu được khái niệm thế nào là tội hủy hoại rừng thì cần hiểu khái niệm rừng và hủy hoại rừng: Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 (sau đây gọi là Luật BV&PTR năm 2004) quy định: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”. 7 Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học [99, tr. 416] thì “hủy hoại” có nghĩa là làm cho hư hỏng đi, phá đi, cho tan nát.
Theo quy định của pháp luật nước ta thì rừng là một loại tài sản. Do đó, để hiểu được hành vi hủy hoại rừng thì cần hiểu thế nào là hành vi hủy hoại tài sản. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội, định nghĩa “hủy hoại tài sản” là cố ý làm cho tài sản mất giá trị sử dụng ở mức độ không còn hoặc khó có khả năng khôi phục lại được. Hủy hoại tài sản có thể qua hành động (như đập phá, đốt.) hoặc không qua hành động (như cố ý không tắt máy, ngắt điện khi có sự cố dẫn đến máy bị hư hỏng hoàn toàn.
Như vậy, “hủy hoại rừng” là hành vi cố ý làm cho nguồn tài nguyên rừng, cây rừng bị hủy hoại, bị chết hàng loạt. Hành vi hủy hoại rừng là những hành vi cố ý đốt, phá rừng trái phép hoặc có những hành vi khác làm cho rừng bị tan nát, bị hư hỏng, bị diệt phá và cây rừng bị chết hàng loạt [23, tr. 7], làm cho diện tích rừng và giá trị lâm sản bị thiệt hại. Theo định nghĩa nội dung về tội phạm, thì “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt”.
Dựa trên định nghĩa tội phạm, có thể đưa ra khái niệm tội hủy hoại rừng như sau: “Tội hủy hoại rừng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, được thực hiện một cách cố ý như đốt, phá rừng trái phép hoặc hành vi khác, làm cho rừng mất hoàn toàn giá trị hoặc làm cho rừng giảm giá trị đáng kể, xâm phạm các quan hệ xã hội về bảo vệ rừng của Nhà nước, gây thiệt hại cho môi trường sinh thái”. Từ định nghĩa trên cho thấy tội hủy hoại rừng có các dấu hiệu của tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự như sau: - Thứ nhất, về tính nguy hiểm cho xã hội của tội hủy hoại rừng được hiểu là những hành vi cố ý đốt, phá rừng trái phép hoặc có những hành vi khác làm cho rừng bị hủy hoại, bị hư hỏng và cây rừng bị chết hàng loạt, từ đó dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về mặt môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của rừng nói riêng, môi trường nói chung, đây là những quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Qua đó, có thể thấy hành vi hủy hoại rừng là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Tuy nhiên, không phải hành vi hủy hoại rừng nào cũng được xem là tội 8 phạm, mà hành vi phải nghiêm trọng đến mức chịu trách nhiệm hình sự (sau đây gọi là TNHS) (hay còn gọi là hành vi gây nguy hiểm đáng kể [26, tr.
12] cho xã hội thì mới phải chịu TNHS) và tính nguy hiểm cho xã hội là thuộc tính mang tính khách quan của tội hủy hoại rừng. - Thứ hai, về tính có lỗi của tội hủy hoại rừng, đó là thái độ tâm lý đối với hành vi phạm tội hủy hoại rừng do người có năng lực TNHS thực hiện và đối với hậu quả của hành vi đó, được thực hiện dưới hình thức cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp [43, tr. 65-66], trái với các chuẩn mực của xã hội, trái với các quy định về bảo vệ và phát triển rừng mà Nhà nước đã đặt ra. - Thứ ba, về tính trái pháp luật hình sự của tội này được hiểu là tội hủy hoại rừng phải được quy định trong Bộ luật Hình sự (sau đây gọi là BLHS), đây là biểu hiện của nguyên tắc pháp chế thể hiện tại Điều 2 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015) quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”, tính trái pháp luật hình sự chính là hình thức pháp lý của tính nguy hiểm cho xã hội của tội hủy hoại rừng, giữa hai đặc tính này có mối quan hệ chặt chẽ, gắn liền với nhau, thể hiện thông qua việc đe dọa áp dụng chế tài hình sự đối với người thực hiện hành vi hủy hoại rừng với mức nguy hiểm đáng kể.
Theo đó, hành vi hủy hoại rừng tuy nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa được BLHS quy định thì hành vi này không phải là tội phạm, đồng thời, nếu hành vi hủy hoại rừng được quy định trong BLHS nhưng không phải là hành vi nguy hiểm đáng kể thì cũng không phải là tội phạm. - Thứ tư, về tính phải chịu hình phạt của tội này được hiểu là hành vi hủy hoại rừng gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội khi đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được BLHS quy định là tội phạm, thì có khả năng bị áp dụng hình phạt, thể hiện sự đe dọa áp dụng việc trừng phạt bằng các chế tài hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội hủy hoại rừng. Hình phạt đối với hành vi hủy hoại rừng chính là hình thức thể hiện bản chất nguy hiểm của tội hủy hoại rừng, thể hiện tính cưỡng 9 chế Nhà nước nghiêm khắc nhất nhằm răn đe và phòng ngừa đối với loại hành vi nguy hiểm đáng kể này [43, tr. Giữa tính phải chịu hình phạt với các đặc tính ở trên có mối quan hệ với nhau, qua đó tạo cơ sở để phân biệt tội hủy hoại rừng với hành vi hủy hoại rừng vi phạm pháp luật khác không bị xử lý bằng chế tài nghiêm khắc của pháp luật hình sự.
Từ khái niệm tội hủy hoại rừng như đã phân tích ở trên cho thấy tội hủy hoại rừng mang đầy đủ các dấu hiệu chung của tội phạm được quy định trong BLHS năm 2015. Đây là tiền đề, nội dung quan trọng để Luận văn phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng theo quy định tại Điều 243 BLHS năm 2015. Các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng Theo quy định tại Điều 243 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi là BLHS năm 2015) thì tội hủy hoại rừng có các dấu hiệu pháp lý như sau: 1. Các quy định về cấu thành tội phạm của tội hủy hoại rừng Điều 243 BLHS năm 2015 quy định tội hủy hoại rừng với 5 điều khoản gồm: Khoản 1 quy định các dấu hiệu định tội của tội hủy hoại rừng; khoản 2 và khoản 3 quy định các dấu hiệu định khung hình phạt; khoản 4 quy định hình phạt bổ sung là tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; khoản 5 quy định TNHS là pháp nhân thương mại, đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp nước ta BLHS năm 2015 đã đưa chủ thể pháp nhân thương mại vào chịu TNHS đối với tội hủy hoại rừng.
Để một hành vi vi phạm pháp luật và hành vi đó bị truy cứu TNHS, bị coi là tội phạm thì phải đủ 04 yếu tố cấu thành tội phạm là: Khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan; 04 yếu tố này có nội dung quy định khác nhau, sự khác nhau về nội dung quyết định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và được áp dụng ở một khung hình phạt nhất định tưng ứng của điều luật cho hành vi phạm tội đó. Tội hủy hoại rừng được quy định tại Điều 243 BLHS năm 2015 là một tội phạm cụ thể thuộc nhóm tội phạm về môi trường nên có đầy đủ các dấu hiệu định tội và các dấu hiệu định khung hình phạt. * Các dấu hiệu định tội 10 - Khách thể của tội hủy hoại rừng: Tội hủy hoại rừng xâm phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm phạm đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái. Đối tượng tác động trực tiếp là rừng tự nhiên hoặc rừng trồng trên đất lâm nghiệp (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất).