mở đầu cho những thay đổi mạnh mẽ về pháp luật hình sự nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích cho người khác nói riêng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 về việc trừng trị một số tội phạm. Trong đó, điểm 3 của Thông tư có quy định hành vi đánh bị thương: phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm; đánh bị thương có tổ chức hay gây thành cố tật hay chết người có thể phạt đến 20 năm. Không những vậy, Điều 4 của Thông tư 442/TTg còn quy định: “Không cẩn thận. mà gây tai nạn làm người khác bị thương thì sẽ bị phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Nếu gây tai nạn làm người chết người thì có thể phạt tù đến 10 năm” [26, tr. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình được lập lại, các văn bản quy phạm pháp luật của thực dân và phong kiến lúc này không còn phù hợp. Do đó, ngày 30/6/1955, Bộ Tư pháp đã có Thông tư số 19/VHH-HS yêu cầu các Tòa án không áp dụng luật lệ của thực dân - phong kiến nữa. Thông tư này ra đời đã thay thế Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 và cùng với Chỉ thị số 772/TATC được TANDTC ban hành ngày 10/7/1959 về vấn đề đình chỉ áp dụng pháp luật cũ của đế quốc và phong kiến, từng bước ban hành các văn bản pháp luật mới đã tạo ra bước ngoặc đổi mới cho pháp luật hình sự Việt Nam nói chung cũng như quy định về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng.
Thời kỳ sau năm 1975, khi miền Nam được giải phóng, đất nước được 15 thống nhất, Nhà nước ban hành Nghị quyết ngày 02/7/1976 giao cho Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng pháp luật thống nhất trên phạm vi cả nước. Trong đó, các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được quy định trong Sắc luật số 03-SL/76 của Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam và được áp dụng trên cả nước. Cụ thể hơn, điểm b Điều 5 Sắc luật quy định rất rõ nếu ai phạm tội cố ý gây thương tích, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm. Thậm chí, trường hợp nghiêm trọng, thì bị phạt tù đến 20 năm.
Bên cạnh đó, TANDTC hướng dẫn việc áp dụng pháp luật cho Tòa án các cấp, trong đó có Chỉ thị số 07-TANDTC/CT ngày 22/12/1983 về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ. Nhờ đó, có sự phân biệt được một số trường hợp đặc biệt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác, các Tòa án tránh sự nhầm lẫn trong quá trình áp dụng. Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 Quá trình xây dựng đất nước đã tạo điều kiện để nước ta chú trọng hơn về vấn đề lập pháp hình sự. Ngày 27/6/1985, Quốc hội đã thông qua BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, đặt cột mốc vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển quy phạm pháp luật về hình sự nói chung và quy định pháp luật về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng, trong đó có tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác.
Trong BLHS năm 1985, các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được quy định tại Chương II với các tội phạm cụ thể bao gồm: Tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 109); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 110); tội vô ý gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 111) và tội hành hạ người khác (Điều 103) [19]. Để các quy định này được thực thi, liên ngành Trung ương bao gồm TANDTC, VKSNDTC và Bộ Nội vụ đã ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn thi hành nhóm tội phạm này [13, tr. Trong đó, phải kể 16 đến Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần các tội phạm của BLHS đã hướng dẫn cách thức phân biệt giữa thương tích với thương tích nặng, giữa tổn hại sức khỏe với tổn hại nặng cho sức khỏe; mô tả một số tình tiết gây thương tích có tính nguy hiểm cao, có tính côn đồ,. Hay Nghị quyết số 01/1989/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã hướng dẫn tình tiết gây thương tích dẫn đến chết người phải có thương tích nặng là thương tích có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, gây tổn thương động mạch, tĩnh mạch, não, cột sống, các bộ phận nội tạng trong cơ thể nạn nhân.
Mặt khác, vẫn coi là cố ý gây thương tích dẫn đến chết người trường hợp không phải là thương tích nặng, nếu nạn nhân là người quá già yếu, có bệnh nặng, việc gây thương tích làm cho họ chết sớm hơn [9, tr. Không dừng lại ở đó, BLHS năm 1985 được ban hành đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997. Trong các lần đó, các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được sửa đổi hai lần. Lần thứ nhất, ngày 28/12/1989, quy định bổ sung thêm trường hợp: “gây thương tích cho nhiều người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người” tại khoản 2 Điều 109.
Lần thứ hai, sửa cụm từ “sử dụng vũ khí” thành “dùng vũ lực”; sửa cụm từ “Phạm tội làm chết nhiều người.” thành “Phạm tội làm chết nhiều người hoặc trong trường hợp nghiêm trọng khác” tại khoản 1 Điều 103. Các bổ sung này ít nhiều đã góp phần rất lớn trong việc làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sức khỏe. Qua đó, tạo tiền đề phân định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với các tội xâm phạm sức khỏe khác. Tuy nhiên, sau khi được ban hành, BLHS năm 1985 dù đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn mang chưa theo kịp tình hình kinh tế - xã hội trong nước cũng như tình hình quốc tế có những biến đổi to lớn, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống nhân dân, trật tự an toàn xã hội.
Đó là đòi hỏi phải có BLHS mới với các quy định phù hợp hơn, đáp ứng các yêu cầu của thời đại. Ngày 21/12/1999, Quốc hội thông qua BLHS có hiệu lực từ ngày 01/7/2000. Đến năm 2009, Bộ luật này đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung 17 một số điều của BLHS và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Trong BLHS này, các nhà làm luật quy định tất cả bảy tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
Có thể nói, so với BLHS năm 1985 thì BLHS năm 1999 đã phân hóa rõ ràng hơn các tội xâm phạm sức khỏe của người khác bằng việc tách nội dung một số điều luật để quy định thành những tội danh [11, tr.15], cụ thể như sau: Một là, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 109 BLHS năm 1985) được tách làm ba tội riêng biệt: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105) và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106) [20]; Hai là, tội vô ý gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 110 BLHS năm 1985) được tách làm hai tội khác nhau: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 108); tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 109); Ba là, tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 103 BLHS năm 1985) được tách làm hai tội gồm: Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97) và tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 107). Quá trình áp dụng BLHS năm 1999, để làm rõ thêm nội dung chưa rõ và tháo gỡ các vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn xét xử, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã ban hành một số Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Trong đó, Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS đã giải thích khá cụ thể và rõ ràng về tình tiết “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” ở điểm b khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999. Nghị quyết số 02/2003/NQ- HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm”, “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người”, “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” 18 tại các điểm a, c, đ khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999.
Qua đó, tránh các nhận thức pháp luật khác nhau và thống nhất việc áp dụng, đảm bảo đồng bộ, hiệu quả. Quy định tương tự của Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Quá trình lập pháp của Việt Nam đều có sự tiếp thu có chọn lọc các yếu tố hợp lý của pháp luật một số nước trên thế giới. Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng, trong lĩnh vực hình sự, Việt Nam có sự học tập các nội dung, kỹ thuật lập pháp chủ yếu là của Liên bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Nhật Bản. Đối với Liên bang Nga (trước đây là Liên Xô), khoa học pháp lý hình sự của Việt nam từ khi hình thành đến khi BLHS đầu tiên ra đời năm 1985 đã chịu ảnh hưởng lớn của khoa học pháp lý hình sự của của nước này.
Nhiều nhà khoa học pháp lý hình sự của Việt Nam hiện nay đã từng được đào tạo tại các trường Đại học hoặc cấp, bậc nghiên cứu khác nhau ở Liên Xô. Do đó, quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong BLHS của Việt Nam cũng khá tương đồng về nội dung và kỹ thuật lập pháp với BLHS của Cộng hoà Liên bang Nga.