Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 1. Khái niệm Ở mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử khác nhau, tội phạm trong xã hội luôn có sự biến đổi cả về nội dung và hình thức theo sự vận động và phát triển của xã hội. Khái niệm tội phạm trong khoa học pháp lí hình sự là một trong những chế định được quan tâm.
Theo pháp luật hình sự Việt Nam:“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tê, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN mà theo Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” khoản 1, Điều 8 BLHS năm 2015 [12, tr. Trên cơ sở khái niệm của tội phạm, các quy định của Điều 135 BLHS năm 2015, có thể đưa ra khái niệm về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện một cách cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho 7 sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 135 BLHS do chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người và theo quy định phải bị xử lý hình sự” [40, tr. Từ khái niệm trên, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là sự tác động đến thân thể người khác một cách trái pháp luật. Hành vi do người phạm tội thực hiện có thể gây ra những thương tích, làm tổn hại đến sức khỏe nhất định của con người.
Nguyên nhân dẫn tới tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội đó là nạn nhân đã thực hiện những hành vi trái pháp luật nghiêm trọng tác động đến người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội [40, tr. Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng là hành vi trái pháp luật nói chung (không chỉ trái pháp luật hình sự) và phải ở mức độ nghiêm trọng xảy ra một cách tức thời. Cũng có trường hợp hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức nặng nề, đến một thời điểm nhất định mới bùng lên thì vẫn được coi là tinh thần bị kích động mạnh. Vấn đề về người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó cũng cần được xác định rõ [40, tr.
Để đánh giá mức độ tinh thần bị kích động mạnh hay không cần căn cứ vào tính chất, đặc điểm, mức độ của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, đặc điểm tâm sinh lý của người phạm tội, điều kiện môi trường xảy ra hành vi phạm tội, mối tương quan giữa nạn nhân và người phạm tội. Theo đó, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp người nào đó đang ở trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh do hành vi 8 trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với họ hay người thân thích của họ nên người đó đã có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dẫn đến gây ra tỷ lệ thương tổn thương cơ thể từ 31 % trở lên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể đó là kết quả giám định được trong bản giám định pháp y do Bộ Y tế quy định [40, tr. Từ phân tích trên cho thấy, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Điều 135 BLHS là một trong những tội phạm cụ thể được BLHS quy định, do vậy có những dấu hiệu chung của tội phạm, đồng thời cũng có những dấu hiệu giống tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS.
Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 1. Các dấu hiệu định tội Cấu thành tội phạm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tập hợp những dấu hiệu có tính chất đặc trưng riêng của một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS. Đây là mô hình pháp lý để định tội. Cũng như bất kỳ một tội phạm cụ thể nào, cấu thành tội phạm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh bao gồm 4 yếu tố, đó là khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trường hợp cố ý thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt, vì thế tội phạm này cũng có đầy đủ những dấu hiệu pháp lý, cụ thể: - Khách thể của tội phạm 9 Hành vi của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đã xâm phạm sức khỏe của người khác. Khách thể của tội phạm này trực tiếp xâm hại quyền được bảo hộ sức khỏe con người. - Mặt khách quan của tội phạm + Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm Trong mặt khách quan của tội phạm, dấu hiệu hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh mà lý do dẫn đến trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội chính là nạn nhân trước đó có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm đó là hành vi gây thương tích và hành vi gây tổn hại về sức khỏe, chúng giống nhau về phương thức thực hiện hành vi, nhưng khác nhau ở hậu quả của hành vi, cụ thể đó là: Đối với hành vi gây thương tích cho người khác được hiểu là hành vi mà người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đã tác động trái pháp luật lên thân thể người khác, làm cho người đó có những thương tích nhất định về sức khỏe nhất định.
Với hành vi tác động trái pháp luật lên thân thể người khác, ví dụ như dùng chân, tay hoặc công cụ phương tiện hỗ trợ như dao, súng, gậy, công cụ, phương tiện tự chế… gây ra những thương tích với một tỷ lệ nhất định cho nạn nhân, làm cho nạn nhân mất đi một hay nhiều bộ phận trên thân thể [14, tr. Còn đối với hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đó là hành vi mà người phạm tội trong trạng thái bị kích động mạnh tác động trái pháp luật lên thân thể người khác, làm cho sức khỏe của nạn nhân yếu đi, sức khỏe không còn giống như lúc đầu dù không để lại dấu vết trên thân thể nạn 10 nhân. Nếu trường hợp gây thiệt hại cho sức khỏe của chính bản thân mình để trốn tránh nghĩa vụ phải làm thì tùy từng trường hợp cụ thể để có thể xem xét TNHS theo tội danh tương ứng khác và sẽ không truy cứu TNHS theo tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh [15, tr. + Dấu hiệu hậu quả của tội phạm Hậu quả thương tích (hậu quả của hành vi gây thương tích) hoặc hậu quả tổn hại về sức khỏe (hậu quả của hành vi gây tổn hại về sức khỏe của người khác) chính là phản ánh dấu hiệu hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
Theo quy định của pháp luật thì tỷ lệ tổn thương cơ thể là tỷ lệ thương tích của nạn nhân do cơ quan có thẩm quyền giám định pháp y xác định, được kết luận trong bản giám định đúng theo trình tự, thủ tục luật định. Cơ sở pháp lý quy định tại Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Cần phải phân biệt rõ sự khác nhau giữa hành vi gây thương tích cho người khác với hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đó là: hành vi gây thương tích cho người khác là hành vi gây ra phải để lại những thương tích trên cơ thể của nạn nhân, còn hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi thực hiện ảnh hưởng suy yếu đến sức khỏe của nạn nhân. Người phạm tội thực hiện hành vi gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác sẽ bị xử lý hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khi họ thực hiện hành vi mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên theo quy định Điều 135 BLHS.