Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI BẮT CÓC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM TỘI BẮT CÓC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI PHẠM NÀY TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Tội phạm là một hiện tượng xã hội - pháp lý gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như sự xuất hiện của sở hữu tư nhân và sự phân chia xã hội thành những giai cấp đối kháng. Tội phạm chính là hiện tượng tiêu cực trong xã hội, vì vậy để duy trì quyền lực và trật tự xã hội, giai cấp cầm quyền phải xây dựng một bộ máy cưỡng chế đủ mạnh để trấn áp những phần tử chống đối, duy trì sự ổn định của trật tự xã hội có lợi cho giai cấp cầm quyền và cho toàn xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2002 thì "bắt cóc" là bắt người một cách đột ngột và đem giấu đi [49, tr.
Trong cuộc sống thường ngày, nhân dân ta gọi hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là bắt cóc tống tiền. Mặc dù Bộ luật Hình sự hiện hành chưa đưa ra định nghĩa pháp lý về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên khái niệm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã được đề cập trong một số sách báo pháp lý của nước ta. Trong cuốn Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa năm 1999 đã đưa ra khái niệm "bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản" là bắt đem giấu đi để làm con tin nhằm buộc gia đình, người thân phải nộp tiền chuộc. Tội phạm hoàn thành khi đã có hành vi bắt cóc và đòi tiền chuộc không kể là có lấy được tiền chuộc hay không.
Nếu vì không đạt được mục đích đòi tiền chuộc mà kẻ phạm tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của con tin thì tùy 5 z hành vi thực hiện mà xử thêm tội giết người hoặc cố ý gây thương tích cùng với tội bắt cóc theo nguyên tắc phạm nhiều tội [47, tr. Cuốn Từ điển luật học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp năm 2006 lại đưa ra khái niệm "tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản" là hành vi bắt giữ con tin, đe dọa chủ tài sản phải giao nộp tài sản nếu không tính mạng, sức khỏe danh dự sẽ bị xâm hại. Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm không chỉ quyền sở hữu mà còn quyền nhân thân của người khác [48, tr. Theo quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế được thể hiện trong cuốn Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm, tập II, thì "bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản" là hành vi bắt người làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt [31, tr.
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội do PGS.TSKH Lê Cảm chủ biên lại cho rằng "tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản" là việc người phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn bắt cóc người khác làm con tin [12, tr. Trong nội dung Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 1999, các nhà lập pháp quy định tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản như sau: "Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt. Như vậy, các nhà lập pháp đã không miêu tả cụ thể những dấu hiệu của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà chỉ nêu tội danh. Theo quan điểm của chúng tôi, bắt người khác làm con tin là bắt người và giấu đi để buộc người muốn chuộc con tin phải thỏa mãn những yêu sách của người bắt.
Tuy nhiên, hành vi bắt người để buộc người muốn chuộc phải giao tài sản hoặc tiền thì mới bị coi là bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Trong thực tế, có nhiều trường hợp bắt người đem giấu một nơi nhưng không đòi tiền chuộc mà nhằm mục đích khác thì không phải là bắt cóc nhằm chiếm 6 z đoạt tài sản, mà tùy từng trường hợp cụ thể, người có hành vi bắt cóc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 134 Chương XIV về các tội xâm phạm sở hữu Bộ luật Hình sự năm 1999. Như vậy, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cần thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm thể hiện đầy đủ cả ba bình diện tương ứng với năm đặc điểm (dấu hiệu) của tội phạm là: - Bình diện khách quan (nội dung) - Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
- Bình diện pháp lý (hình thức) - tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự. - Bình diện chủ quan - tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [11, tr. Tuy chưa có một định nghĩa chuẩn từ phía các nhà lập pháp, nhưng trên cơ sở phân tích các khái niệm trên cũng như xuất phát từ thực tiễn xét xử, chúng tôi xin đưa ra khái niệm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản như sau: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt, giữ người khác làm con tin do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm buộc người muốn chuộc phải nộp cho mình tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt, giữ. Việc ghi nhận tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp nước ta.
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật Hình sự có những ý nghĩa to lớn sau: Thứ nhất, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân. 7 z Điều 1 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định "Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội". Pháp luật hình sự hiện hành quy định tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thể hiện thái độ nhất quán của nhà nước ta trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản của nhân dân. Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng và chống tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
Trong những năm qua, tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến phức tạp trên tất cả các lĩnh vực. Các tội xâm phạm sở hữu có xu hướng gia tăng. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản diễn ra ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Việc ghi nhận tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự hiện hành tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này.
Thứ ba, có ý nghĩa giáo dục người dân và các tác dụng răn đe đối với người có ý định bắt cóc người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Việc ghi nhận tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa giáo dục mọi tầng lớp nhân dân và răn đe đối với người có ý định phạm tội này bởi lẽ những người phạm tội này là vì mục đích vụ lợi, muốn có tiền không phải từ sức lao động của mình. Như vậy, việc ghi nhận tội phạm này trong luật có ý nghĩa giáo dục con người hướng đến cái thiện, xóa bỏ cái ác tức là giáo dục về tư tưởng, hành vi, lối sống, nhân cách con người trong cuộc sống đáp ứng những yêu cầu của xã hội. Thứ tư, góp phần thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế và khu vực của Đảng và Nhà nước ta.
8 z Ngày nay, nhu cầu hội nhập quốc tế và khu vực đã trở thành nhu cầu khách quan của mỗi quốc gia. Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nên việc đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp với pháp luật quốc tế nói chung và việc xây dựng, hoàn thiện về tư pháp hình sự được coi là một đảm bảo hữu hiệu cơ chế hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là rất cần thiết. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VII đã nêu rõ: Phải tiếp tục củng cố và tăng cường hoạt động tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước trong thời kỳ mới, phải mở rộng quan hệ quốc tế về tương trợ tư pháp, về phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội. Việc ghi nhận tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự hiện hành góp phần tích cực vào việc thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế và khu vực của Đảng và Nhà nước ta.
KHÁI LƢỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI BẮT CÓC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thời kỳ phong kiến Sau khi đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng Vương (năm 939) và bắt đầu xây dựng một chính quyền Trung ương độc lập. Trong buổi đầu của nền quân chủ phong kiến tự chủ, để bảo vệ nền thống trị mới được thành lập, chính quyền mới đã sử dụng các biện pháp bạo lực với các hình phạt nghiêm khắc đối với những kẻ chống đối. Theo sử sách để lại, việc quy định hành vi nào là tội phạm và hình phạt được áp dụng dưới thời Đinh, Lê đều tùy ý của vua hay các viên quan đứng đầu khu vực.
Tuy nhiên, thời kỳ này pháp luật thành văn hay không ta chưa thể giải đáp một cách chắc chắn nên chúng ta cũng chưa có tài liệu khẳng định thời kỳ này có quy định tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hay không? 9 z Dưới thời nhà Lý, quyền thống trị của giai cấp phong kiến đã được xác lập.