Chương 1 NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝVỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của trợ giúp pháp lý 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý Hoạt động trợ giúp pháp lý xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử các nước trên thế giới. Nó được coi là một loại hoạt động phúc lợi xã hội được khởi nguồn từ nước Anh, nguồn gốc từ quyền có luật sư bảo vệ và quyền được xét xử công bằng được thừa nhận đầu tiên ở Châu Âu, Vương Quốc Anh và Hoa Kỳ. Cho đến nay, các nước trên thế giới triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý ở các mức độ và mô hình khác nhau.
Chế định về trợ giúp pháp lý theo đó cũng được tiếp cận dưới nhiều góc độ như kinh tế, pháp lý và góc độ nhân đạo lấy sự yếu thế, bần cùng hoặc bất bình đẳng của nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt làm căn cứ cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của mình. Về mặt kinh tế, trợ giúp pháp lý được hiểu là trách nhiệm của nhà nước bảo đảm nguồn tài chính chi trả cho các dịch vụ pháp lý cho một đối tượng nhất định nhằm đảm bảo khả năng tiếp cận công lý và công bằng xã hội. Đặc điểm này có thể được xem là một trong những căn cứ để phân định hoạt động trợ giúp pháp lý với hoạt động thiện nguyện tuy cũng thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí và có chung mục đích góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý nhưng đối tượng tiếp nhận dịch vụ pháp lý không bị hạn chế và được người thực hiện dịch vụ thiện nguyện không được hưởng bất kỳ khoản thù lao nào từ sự chi trả của nhà nước, các quỹ phúc lợi, các tổ chức xã hội [89]. Về mặt pháp lý, giữa các hệ thống pháp luật khác nhau, kỹ thuật lập pháp khác nhau thì khái niệm “trợ giúp pháp lý” cũng được quy định khác nhau.
Các nước thuộc hệ thống thông luật định nghĩa trợ giúp pháp lý theo hướng khái quát, thiên về việc quy định ai là đối tượng được trợ giúp pháp lý và đặc biệt nhấn mạnh mục tiêu của trợ giúp pháp lý là bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý. Như vậy, trợ giúp pháp lý thuộc về trách nhiệm của Nhà nước trong 8 việc bảo đảm nguồn tài chính chi trả cho các dịch vụ pháp lý cho một số đối tượng nhất định, chứa đựng thuộc tính kinh tế, nhân đạo, hướng đến bảo đảm công lý cho nhóm người gặp khó khăn về kinh tế không thể tự mình chi trả được các chi phí cho việc tiếp cận dịch vụ pháp lý [89]. Về mặt nhân đạo thì trợ giúp pháp lý được hiểu là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền công dân, thể hiện tính nhân văn của Nhà nước thông qua chế độ miễn giảm, các dịch vụ và chi phí tố tụng với các đối tượng yếu thế để bảo đảm quyền lợi theo quy định của pháp luật hoặc đương sự. Ở Việt Nam, hoạt động trợ giúp pháp lý ra đời khá muộn, tư tưởng trợ giúp những đối tượng yếu thế được xuất hiện manh nha các văn kiện mang tính chủ trương, đường lối của đảng cụ thể tại văn bản số 485/CV-VPTW ngày 31/5/1995 của Văn phòng Trung ương Đảng có nêu: “Cần phải mở rộng loại hình tư vấn pháp luật phổ thông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của các tầng lớp nhân dân nhằm góp phần nâng cao ý thức pháp luật và ứng xử pháp luật của công dân trong quan hệ đời sống hàng ngày.; cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật”.
Chỉ đạo này đã đặt dấu ấn quan trọng cho quá trình chuyển biến sâu sắc, mạnh mẽ và toàn diện trong nhận thức và hoạt động của đời sống pháp luật, tạo tiền đề chính trị và nhận thức cho sự ra đời và phát triển của hoạt độngtrợ giúp pháp lý. Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng chính thức trong Quyết định 734/TTG ngày 6/9/1997 của Thủ tướng chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách[49]. Tuy nhiên, phải đến khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 được ban hành, thì chế định trợ giúp pháp lý mới được đề cập một cách chính thức, rõ ràng trong một văn bản luật. Khái niệm “Trợ giúp pháp lý” được định nghĩa cụ thể tại Điều 3 của Luật: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, 9 lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật” [56].
Thực tiễn khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “trợ giúp pháp lý”. Qua nghiên cứu, tác giả có thể chỉ ra hai quan điểm khác nhau khi xác định khái niệm “trợ giúp pháp lý” như sau: Theo nghĩa rộng, “Trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định thông qua hình thức như tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội”[46]. Theo nghĩa hẹp, “Trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo và người được hưởng chính sách ưu đãi thông qua hình thức tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết các vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội”[46]. Các khái niệm này đều lấy đối tượng là người nghèo và đối tượngchính sách làm cơ sở để xây dựng khái niệm “trợ giúp pháp lý”, mặc dù đã đưa ra những nét chủ yếu của hoạt động trợ giúp pháp lý nhưng chưa khái quát, đi sâu vào bản chất, mà chỉ nhìn nhận thông qua hình thức biểu hiện của đối tượng mà hoạt động trợ giúp pháp lý hướng tới.
Mỗi góc độ tiếp cận trên khi xác định khái niệm “trợ giúp pháp lý” đều có những hạt nhân hợp lý nhất định, tuỳ thuộc vào góc nhìn, vào cách sử dụng mà phạm vi này là khác nhau. Trong phạm vi 10 nghiên cứu của đề tài về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng tác giả sử dụng khái niệm được quy định Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017“Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật”[57]. Khái niệm “trợ giúp pháp lý” được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã thể hiện được những thuộc tính chung của hoạt động này trên thế giới (đó là tính kinh tế, tính nhân đạo và tính pháp lý) và thể hiện được những đặc tính riêng của hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam (như là một loại dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, một dịch vụ pháp lý chứa đựng tính nhân văn sâu sắc; thể hiện tính chính trị - xã hội, là một trong những phương thức có hiệu quả để Nhà nước bảo đảm ổn định trật tự và an toàn xã hội…). - Tổ chức trợ giúp pháp lý Qua nghiên cứu tổ chức trợ giúp pháp lý có thể thấy trợ giúp pháp lý có thể được chia thành 3 mô hình phổ biến: Mô hình Nhà nước thực hiện – hay mô hình luật sư công, nghĩa là Nhà nước thực hiện hoàn toàn và Nhà nước cũng không hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức xã hội tham gia trợ giúp pháp lý (như Philippine, Argentina…); Mô hình Nhà nước và xã hội thực hiện, đây là mô hình hỗn hợp, theo đó Nhà nước thành lập, tổ chức thực hiện và có sự tham gia của các tổ chức khác như luật sư, tổ chức xã hội (như Hà Lan, Hàn Quốc, Singgapore…); Mô hình luật sư tư và xã hội thực hiện, trong đó Nhà nước không có hệ thống các cơ quan trợ giúp pháp lý mà chỉ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về trợ giúp pháp lý, việc thực hiện các vụ việc trợ giúp pháp lý cụ thể được giao cho các tổ chức xã hội (Indonesia, Hungary…).
Có thể thấy mô hình hỗn hợp giúp phát huy được các ưu điểm và khắc phục những nhược điểm của hai mô hình còn lại, Việt Nam nằm trong nhóm các nước vận hành tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý theo mô hình hỗn hợp. 11 Với những nội dung quản lý Nhà nước được quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, các cơ quan quản lý Nhà nước đã dần hoàn thiện các thể chế, chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý, điều chỉnh tương đối toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Tổ chức, bộ máy của Trung tâm trợ giúp pháp lý tiếp tục được củng cố, kiện toàn, nhiều tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đã đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng so với giai đoạn trước, điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động được đảm bảo. - Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý là những quy định cơ bản, xuyên suốt giữ vai trò chủ đạo trong suốt quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý mà các chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý phải tuân theo khi thực hiện trợ giúp pháp lý.
Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Theo đó hoạt động trợ giúp pháp lý dựa trên các nguyên tắc: Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.