Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thi hành án dân sự 1. Khái niệm và đặc điểm của thi hành án dân sự 1. Khái niệm thi hành án dân sự Trong khoa học pháp lý, “thi hành án” được hiểu là việc đưa các phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế.
Như vậy đối tượng của THA là các bản án, quyết định của Tòa án, việc đưa ra thi hành các bản án, quyết định của Tòa án được coi là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước, bởi lẽ nó một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền lực của Nhà nước, mặt khác lại là công cụ hữu hiệu để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Theo Đại từ điển tiếng Việt, khái niệm “Thi hành” được hiệu là: "Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [71, tr. Như vậy, THA có thể được hiểu là việc thực hiện các phán quyết của Tòa án hay nói cách khác là hoạt động làm cho các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thực hiện. Nếu trong hoạt động xét xử, kết quả xét xử là việc Tòa án xem xét các tình tiết xảy ra, dựa trên chứng cứ, qua đó áp dụng các điều luật cụ thể để đưa ra phán quyết thì kết quả của THA là căn cứ phán quyết của Tòa án để áp dụng pháp luật thực hiện phán quyết đó trên thực tế, THA chính là khâu cuối để công lý được thực thi.
Hiện nay còn có những ý kiến khác nhau về khái niệm THA, thể hiện hai quan điểm cơ bản: Quan điểm thứ nhất cho rằng, THA là một giai đoạn của tố tụng bởi: “Có xét xử thì phải có thi hành án, thi hành án dựa trên cơ sở của của công tác xét xử. Xét xử và thi hành án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự”. Quan điểm này cho rằng THA gắn liền với hoạt động xét xử, xét xử là tiền đề của THA, thi hành án là sự tiếp nối với xét xử, làm cho phán quyết của Tòa án có hiệu lực trên thực tế, vì vậy nó có tác dụng củng cố kết quả xét xử. Đặc biệt trong THADS, các quan hệ pháp lý chủ yếu mang tính tài sản – đặc trưng của quan hệ dân sự, thông 7 qua THADS, bên phải THA phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản và bên được THA nhận được các quyền, lợi ích về tài sản.
Mặt khác THADS còn có tính độc lập - một đặc trưng của hoạt động tư pháp. Trong hoạt động tổ chức THA, CHV có các nhiệm vụ, quyền hạn mang tính độc lập, pháp luật qui định cá nhân, cơ quan, tổ chức không được can thiệp trái pháp luật vào quá trình THADS của CHV. Chính vì THA là một giai đoạn của hoạt động tố tụng nhằm bảo đảm cho phán quyết của Tòa án được thi hành một cách chính xác, kịp thời, do đó hoạt động này phải gắn liền với quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử, đồng thời phải giao cho Tòa án thực hiện, “Bởi nếu tách ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng. Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án, chỉ mới dừng lại ở việc làm rõ đúng, sai, phải, trái trên văn bản giấy tờ.
Muốn nó được thực hiện trên thực tế, cần phải chờ ở việc tổ chức thi hành án trên thực tế. Vì vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử. Quan điểm thứ hai cho rằng, THA là một giai đoạn mang tính hành chính - tư pháp, các quan hệ THA bao gồm cả quan hệ tố tụng và quan hệ khác mang tính hành chính - tư pháp, trong đó các quan hệ mang tính hành chính - tư pháp là chủ yếu, các thủ tục trong quá trình tổ chức THA cũng mang nặng tính hành chính - tư pháp, nhất là thủ tục thi hành các vụ án kinh tế, tuyên bố phá sản, lao động… do đó không thể đồng nhất hoạt động THA với hoạt động tố tụng. Mặt khác do tính chất hành chính – tư pháp nên trong một số lĩnh vực, một số công việc liên quan đến THA, Nhà nước xem xét xây dựng cơ chế pháp lý để từng bước thực hiện xã hội hóa hoạt động này.
Đây chính là điểm khác biệt của hoạt động THA so với hoạt động tố tụng, bởi hoạt động tố tụng mang tính quyền lực tư pháp, không thể xã hội hóa [67, tr. Do THADS không mang tính tố tụng thuần túy, nên nó cần được coi là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi không phải là Tòa án. Việc này là cần thiết để tạo cơ chế kiểm soát chặt chẽ hơn, tránh lạm quyền trong hoạt động tố tụng, bởi một chủ thể là Tòa án không thể làm hai việc vừa ra phán quyết, vừa thực thi phán quyết. Như vậy rõ ràng THA cần một cơ chế độc lập, minh bạch hơn, trách nhiệm giải trình lớn 8 hơn, chính vì thế chủ thể thực thi phải thuộc về cơ quan hành chính nhà nước.
Các quan điểm trên về THA đều dựa trên các luận cứ khoa học và thực tiễn, có tính hợp lý nhất định. Trong lịch sử hình thành và phát triển cơ quan THADS cũng cho thấy có lúc chúng ta cho cơ quan THA là cơ quan tư pháp, có lúc gọi là cơ quan hành pháp và hiện nay đa số quan điểm đều cho rằng THA là cơ quan có tính chất hành chính – tư pháp. Tôi đồng tình với quan điểm coi THA là hoạt động mang tính hành chính - tư pháp, một giai đoạn có tính độc lập tượng đối, không phải là một giai đoạn của tố tụng dân sự. Qua quan điểm, khái niệm về THA, trên cơ sở bản chất, đặc trưng, phạm vi của hoạt động THADS, có thể định nghĩa về THADS như sau: Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp có tính độc lập tương đối, do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo thủ tục được pháp luật qui định nhằm thực hiện bản án, quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác theo qui định của pháp luật được thực hiện trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Đặc điểm của thi hành án dân sự Một là, THADS là hoạt động mang tính chất hành chính - tư pháp nhằm thực hiện quyền lực nhà nước, do cơ quan THADS và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được nhà nước trao quyền thực hiện nhằm đưa các bản án, quyết định của Tòa án, các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền ra thi hành trên thực tế. Tính chất chấp hành, quản lý trong hoạt động THADS được thực hiện theo các nguyên tắc, trình tự, thủ tục luật định, với quy trình chặt chẽ tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan THA thực hiện nhiệm vụ từ khi tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án, nhận đơn yêu cầu THA đến thụ lý, ra quyết định, tổ chức thi hành và kết thúc việc THA. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tổ chức THA, cơ quan THADS và Chấp hành viên phải xây dựng các phương án, phương pháp THA cụ thể đối với từng vụ việc, do đó yêu cầu của hoạt động THA là phải có tính kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra. đó là những tính chất cơ bản của hoạt động quản lý nhà nước.
9 Hai là, THADS là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, gắn liền với hoạt động xét xử. Trong đó, kết quả xét xử là tiền đề của THADS, không có hoạt động xét xử thì không có hoạt động THA. Tuy nhiên, hoạt động THA cũng có tính độc lập tương đối, thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng việc thụ lý, ra quyết định THA của Thủ trưởng cơ quan THADS, quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với các chủ thể có trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc THADS. Việc không chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm quyết định THA có thể dẫn đến hậu quả pháp lý và bị áp dụng xử lý bằng các chế tài nhất định.
Ba là, căn cứ để THADS là các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Trong một số trường hợp mặc dù bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực nhưng vẫn được thi hành ngay. Những bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan THADS, gồm: Bản án, quyết định dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; phần dân sự trong các bản án hình sự; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam… Những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay gồm: Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc và các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án. Bốn là, trong THADS việc thuyết phục để đương sự tự nguyện THA được coi là phương pháp chủ đạo, cần thiết và quan trọng trong quá trình giải quyết THA.
Nó tránh được việc cơ quan THA phải áp dụng các biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế THA, làm cho vụ án có thể trở nên phức tạp, kéo dài, cũng vì thế mà mất đi tính hiệu lực trong các phán quyết của Tòa án. Tuy nhiên nếu người phải THA không tự nguyện thi hành thì cần thiết phải áp dụng biện pháp cưỡng chế THA theo quy định của pháp luật. Đây là biện pháp đặc thù áp dụng đối với các trường hợp có điều kiện thi hành 10 nhưng cố tình trốn tránh, cản trở việc THA; việc cưỡng chế có tính chất răn đe, giáo dục họ và những người có liên quan về ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật.