MỞ ĐẦU. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. Khái quát về tổ chức và hoạt động của của Tòa án nhân dân .1 Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước.2 Các nguyên tắc cơ bản tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân. Khái quát về tổ chức và hoạt động của Hệ thống Tòa án nhân dân cấp cao ở Việt Nam hiện nay.
Khái quát về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao. Nguyên tắc của tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao. Các yếu tố ảnh hƣởng và mục tiêu đặt ra đối với việc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao ở Việt Nam hiện nay. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao.
Mục tiêu đặt ra đối với việc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao. Mô hình tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao ở một số nƣớc trên thế giới. 37 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN CẤP CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Khái quát quá trình hình thành và phát triển về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959. Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992.
Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2002. Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2014. Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao.
Thực trạng về cơ cấu tổ chức tại Tòa án nhân dân cấp cao. Thực trạng hoạt động xét của Tòa án nhân dân cấp cao ở Việt Nam hiện nay. Kinh nghiệm cho Việt Nam. 67 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2.
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. Hoàn thiện pháp luật. Về tổ chức và cán bộ Tòa án nhân dân cấp cao. Đẩy mạnh đổi mới thủ tục hành chính tƣ pháp.
Nâng cao hơn nữa chất lƣợng đội ngũ Thẩm phán, thực hiện tốt quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán. Tăng cƣờng đầu tƣ cơ sở vật chất, kinh phí, chế độ đãi ngộ với cán bộ công chức ngành Tòa án. 82 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3. 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
91 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Tòa án nhân dân : TAND Tòa án nhân dân tối cao : TANDTC Tòa án nhân dân cấp cao : TANDCC Viện kiểm sát nhân dân : VKSND Xã hội chủ nghĩa : XHCN DANH MỤC BẢNG Trang Bảng 2. Bảng thống kê số lƣợng thụ lý, giải quyết vụ án phúc thẩm và giám đốc thẩm trong giai đoạn 3 năm (từ năm 2016 đến năm 2018)…………………………………. Tính cấp thiết của đề tài luận văn Tòa án là cơ quan thể hiện tập trung quyền tƣ pháp của một quốc gia hiện đại. Thông qua chức năng xét xử, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Nghị quyết số 957/2015/NQ-UBTVQH13 ngày 28/5/2015 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa XIII về việc thành lập các Tòa án nhân dân cấp cao; các Quyết định 986/QĐ-TANDTC, Quyết định 987/QĐ-TANDTC, Quyết định 988/QĐ- TANDTC của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân cấp cao thì cơ cấu tổ chức, bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong bộ máy giúp việc của Tòa án nhân cấp cao (TANDCC). Từ khi thành lập đến nay TANDCC đã từng bƣớc phát triển, chất lƣợng hoạt động xét xử của Tòa án đƣợc nâng lên một bƣớc, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trƣờng ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, đổi mới tổ chức nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Tòa án nhân dân [1]. Tiếp theo đó, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW “Về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 49-NQ/TW) với mục tiêu tổng thể là:“Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước 1 hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” [2].
Đặc biệt, đầu năm 2011, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định nhiệm vụ:“Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý; tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Hoàn thiện chính sách pháp luật về hình sự, dân sự, thủ tục tố tụng tư pháp và về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, đảm bảo tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và chức danh tư pháp. Đổi mới hệ thống tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm cải cách hoạt động xét xử là trọng tâm của cải cách tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa đối với các khiếu kiện hành chính” [10]. Các quan điểm, định hƣớng nêu trên đều khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống cơ quan tƣ pháp và trọng tâm của công tác xét xử.
Vì vậy, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân các cấp đƣợc coi là một nhiệm vụ trọng tâm của quá trình cải cách tƣ pháp. Điều 3 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các Tòa án sau đây: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tƣơng đƣơng; Tòa án quân sự. Điều 1 Nghị quyết số 957/ NQ-UBTVQH 13 quyết định thành lập 03 Tòa án nhân dân cấp cao là: Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh [23]. Tòa án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng chƣa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái 2 thẩm các bản án, quyết định của Toà án thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đã có hiệu lực pháp luật nhƣng bị kháng nghị bằng Hội đồng 3 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao.
Nhƣ vậy TAND cấp cao sẽ làm phần lớn nhiệm vụ của TAND tối cao hiện nay. Vì vậy, học viên chọn đề tài: "Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần hoàn hiện pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hệ thống Tòa án nhân dân nói chung, Tòa án nhân dân cấp cao nói riêng để làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật Hành chính. Tình hình nghiên cứu đề tài Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao tại Việt Nam là một phạm vi cơ bản trong Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Vì vậy, đây là một đề tài thu hút đƣợc sự quan tâm của giới nghiên cứu cũng nhƣ đông đảo bạn đọc.
Qua tìm hiểu, tác giả thấy có một số công trình khoa học trong nƣớc đƣợc nghiên cứu dƣới mức độ và góc độ khác nhau, cả về khía cạnh pháp lý, cả về cơ chế thực hiện. Có thể kể đến: + Tòa án nhân dân tối cao (2006), Thực trạng hoạt động xét xử phúc thẩm và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử phúc thẩm của các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao”, Hà Nội; Đề tài đánh giá thực trạng hoạt động xét xử phúc thẩm các vụ án Hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thƣơng mại, hôn nhân và gia đình và đƣa ra các giải pháp nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động xét xử các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao [35]. + Nguyễn Minh Sử (2011), Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân cấp huyện trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội; Luận án của tác giả đánh giá thực 3 trạng tổ chức của TAND cấp huyện hiện nay, chỉ ra các mặt ƣu điểm và khiếm khuyết trong cách tổ chức đó và tác giả cũng nhấn mạnh các quan điểm về đổi mới mô hình tổ chức và của TAND cấp huyện và kiến nghị các khía cạnh của việc đổi mới tổ chức TAND cấp huyện cũng nhƣ các điều kiện bảo đảm đổi mới [15]. + Nguyễn Minh Sử (2011),“Kiến nghị nhằm nâng cao vị thế độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số tháng 7/ 2011, Hà Nội; Bài viết của tác giả đƣa ra các kiến nghị đi sâu vào việc đảm bảo những yếu tố cho sự độc lập của thẩm phán nhằm tiến tới một nền tƣ pháp hoàn toàn trong sạch đáp ứng đƣợc yêu cầu nhiệm vụ của ngành tƣ pháp là bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật [16].