Chương 1: TCPCP và vấn đề BĐKH. Nội dung chương này đề cập đến các khái niệm BĐKH, TCPCPNN; vai trò của các TCPCP đối với vấn đề BĐKH… để xác định rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Nhận thức về BĐKH và hoạt động của TCPCPNN tại Việt Nam giai đoạn 1998 đến nay. Thông qua một số dự án điển hình, chương này sẽ làm rõ các hoạt động của TCPCPNN trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH.
13 z Chương 3: Nhận xét hoạt động của các TCPCPNN trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH tại Việt Nam, từ đó chỉ ra kiến nghị - đề xuất để tìm đến giải pháp hoàn chỉnh hơn. 14 z CHƢƠNG I: TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Các vấn đề cơ bản về tổ chức phi chính phủ 1. Khái niệm và phân loại tổ chức phi chính phủ Do vai trò ngày càng gia tăng nên trên thế giới có rất nhiều các công trình nghiên cứu đa dạng về các TCPCP từ lý thuyết đến thực tiễn.
Trong số đó, học viên đã tiếp cận được với một số công trình về TCPCP. Cụ thể: Tổ chức phi chính phủ (Non – governmental organization - TCPCP) là một thuật ngữ được sử dụng khi nói tới những tổ chức xã hội dân sự (civil society) hợp pháp tự nguyện vì những lợi ích công, thường không vì mục đích lợi nhuận, phi bạo lực và không thuộc chính phủ. Thuật ngữ TCPCP được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1945 khi Liên hợp quốc ra đời. Hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TCPCP.
Trong Hiến chương Liên hợp quốc: "Các TCPCP là bất cứ tổ chức quốc tế nào được lập ra không phải do một thỏa thuận liên chính phủ quốc tế, nhưng TCPCP đó có thể bao gồm các tổ chức thành viên do chính phủ cử ra, với điều kiện thành viên đó không được can thiệp vào quyền tự do bày tỏ ý kiến của tổ chức đó". Theo định nghĩa của World Bank thì TCPCP là “một tổ chức dân sự theo đuổi những hoạt động nhằm giảm bớt khổ đau, thúc đẩy lợi ích của người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hoặc thực hiện các dịch vụ cộng đồng”. (1995), Working with NGOs: A practical guide to operational collaboration between the world bank and non-governmental organizations, Operations Policy Department, World Bank. 15 z Tất cả các tổ chức được gọi là phi chính phủ đều có những đặc điểm chung nhất định: - Không chịu sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ; - Là một tổ chức phi lợi nhuận; - Không phải là một tổ chức được hình thành như một đảng phái chính trị; - Không phải là một tổ chức tội phạm, phải là một tổ chức phi bạo lực.
Tuy nhiên không phải lúc nào các tiêu chí này cũng thể hiện rành mạch do tùy vào cách tiếp cận, mục đích phân loại, đánh giá khác nhau. Ở Việt Nam, thuật ngữ TCPCP xuất hiện lần đầu tiên trong Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992, trong đó quy định “Thủ tướng chính phủ cho phép thành lập và quản lý việc tuân theo pháp luật của các Hội, các Tổ chức phi chính phủ”. Sau đó là Luật Hợp tác xã năm 1996 và một số văn bản pháp qui gần đây: TCPCP là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối với Chính phủ; Được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, có sự quản lý Nhà nước; Được lập ra do sự tự nguyện của nhân dân; Hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật. Từ những đặc điểm đó, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và những người làm trong lĩnh vực phát triển đã đưa ra quan niệm chung về TCPPCP trong nước như sau: “ Là tổ chức tự nguyện của nhân dân, có tư cách pháp nhân, cùng ngành, cùng nghề, nhu cầu, giới… hoạt động một cách thường xuyên để thực hiện mục tiêu chung, không vì mục tiêu phân chia lợi nhuận và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam”.4 4 Học viện Hành chính quốc gia, “Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
16 z Đối với thuật ngữ Tổ chức phi chính phủ quốc tế (TCPCPTQT) lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1950 tại Nghị quyết số 288 (X) của Hội đồng Kinh tế xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC). Theo đó TCPCPQT là bất kỳ tổ chức quốc tế được thành lập mà không phải bằng hiệp định liên chính phủ. Do vai trò ngày càng quan trọng của việc hợp tác quốc tế cũng như của các TCPCPQT, khái niệm về TCPCPQT dần được hoàn thiện, không còn lỏng lẻo như lúc ban đầu. Năm 1996, ECOSOC đã đưa ra một số đặc trưng của TCPCPQT bao gồm phi thương mại; không tham gia vào bạo lực hoặc chủ trương bạo lực; không có ý định thay thế các chính phủ hiện có; ủng hộ các mục tiêu và chương trình nghị sự của Liên hợp quốc.
Theo các đặc điểm đặc trưng này, nhiều khái niệm, định nghĩa về TCPCPQT ra đời, trong đó có khái niệm do Florini đưa ra vào năm 2000 thể hiện đầy đủ, tổng quan nhất tính chất TCPCPQT: "Các nhóm ủng hộ tự tổ chức thực hiện hành động mang tính tập thể, tự nguyện xuyên qua các biên giới quốc gia trong việc theo đuổi những gì mà họ cho là lợi ích công rộng lớn hơn".5 Phân loại TCPCP rất đa dạng, tùy vào từng mục đích, đối tượng hoạt động cụ thể. Có thể phân loại các TCPCP theo tính chất: quốc tế, quốc gia, chính phủ hoặc theo hình thức hoạt động là các quỹ văn hóa, các tổ chức từ thiện, hoặc các tổ chức có nguồn gốc tôn giáo. TCPCP còn được phân loại theo lĩnh vực hoạt động như nhân đạo, phát triển cộng đồng, bảo vệ môi trường, tôn giáo. Ngoài ra căn cứ theo chức năng hoạt động, TCPCP còn được phân loại thành TCPCP thực thi (đề ra và thực hiện một loạt các chương trình, cơ cấu tổ chức, định hướng hoạt động và các khu vực hoạt động xét theo khía cạnh chương trình, địa lý) và vận động (về chính sách, hành động để giải quyết những mối lo ngại, quan điểm hoặc mối quan tâm cụ thể của quốc tế hay khu vực).
5 Đinh Quý Độ, Các tổ chức phi chính phủ quốc tế: vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu. NXB Khoa học xã hội, 2012, tr. 17 z Từ những năm 80 của thế kỷ XX, sự quan tâm đến môi trường ngày càng gia tăng. Điều này đã dẫn tới sự nổi lên của các TCPCP môi trường (Environment non governmental organization - ENGO).
ENGO đa dạng về thời gian tổ chức, quy mô ngân sách và nhân viên, phạm vi hoạt động, định hướng tư tưởng, đặc điểm văn hoá và tổ chức, tình trạng pháp lý, phương tiện và mục tiêu. ENGO được chia thành ba nhóm: (1) Nhóm "dòng chính tư tưởng", bao gồm ENGO cố gắng đạt được các mục tiêu của mình bằng cách ảnh hưởng đến chính sách công và cố gắng đạt được sự bảo vệ môi trường trong khuôn khổ các thể chế hiện có; (2) Nhóm "các nhà sinh thái học sâu sắc" bao gồm các ENGO thách thức các cơ cấu tổ chức cơ bản và các giá trị xã hội; (3) Nhóm "các nhà môi trường cấp tiến", bao gồm các ENGO như những người "chiến binh" và thường mang nghĩa cực đoan. ENGO đóng một vai trò quan trọng trong việc "thiết lập và thực thi các ưu tiên môi trường"; có quyền tiếp cận quỹ, khả năng thu hút sự chú ý của giới truyền thông, quảng bá truyền thông và cung cấp thông tin liên quan và để tiếp cận với việc "hình thành và cải cách các tổ chức quốc tế". Các TCPCP tự giải phóng khỏi chính trị truyền thống, thay đổi điểm tham chiếu và các phương tiện hành động ưu tiên, phát triển về số lượng và sự liên kết lẫn nhau, xuyên quốc gia, góp phần vào sự thay đổi xã hội và chuyển đổi theo một cách khác: họ trở thành những tác nhân của xã hội học tập và do đó đóng góp đáng kể cho việc học cách ra ngoài.
Thay vì tập trung vào chính trị truyền thống, làm thế nào để gây ảnh hưởng và huy động nó, ENGO xây dựng cộng đồng, đặt ra các ví dụ, và ngày càng thay thế cho hành động chính trị truyền thống6. Các tổ chức phi chính phủ nƣớc ngoài tại Việt Nam 6 https://scholarship.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1892&context=law-faculty-publications 18 z Tại Việt Nam, thuật ngữ Tổ chức phi chính phủ nước ngoài (TCPCPNN) được hiểu là bao gồm các TCPCP Quốc gia và quốc tế. Đó là các TCPCP không mang quốc tịch Việt Nam, trong đó các thành viên của nó mang quốc tịch nước ngoài hoặc mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập ra. Đây là thuật ngữ được dùng rất nhiều trong các văn bản của nhà nước, quyết định của chính phủ ví dụ như quyết định số 340 QĐ – TTg về việc Ban hành quy chế về hoạt động của các TCPCPNN tại Việt Nam hay quyết định số 59/2001/QĐ – TTg về việc thành lập Ủy ban.
Theo Hướng dẫn hoạt động của TCPCPNN tại Việt Nam, số 132/HD-UB, ngày 22/8/2005 của Ủy ban Công tác về các TCPCPNN về thực hiện Quy chế hoạt động của các TCPCPNN tại Việt Nam quy định: "Các TCPCPNN nêu tại Điều 1 của Quy chế là các TCPCP, các quỹ văn hóa xã hội, viện nghiên cứu, các Trường Đại học, trung tâm giáo dục, quản tác và các hội hữu nghị được thành lập ở nước ngoài (kể cả cá nhân là người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài) đến Việt Nam hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo, phi lợi nhuận hoặc không vì mục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác, chỉ được phép hoạt động khi đã được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép". Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, TCPCPNN được hiểu là những tổ chức được thành lập ở các quốc gia khác tham gia hoạt động cứu trợ và phát triển tại Việt Nam, trên cơ sở tự nguyện và không vì mục đích lợi nhuận, bao gồm TCPCP quốc gia và TCPCQT. Các TCPCPNN có quan hệ với Việt Nam rất sớm. Sau 1975, phần lớn số TCPCPNN đã chấm dứt hoạt động ở miền Nam Việt Nam.
Sau đó các TCPCPNN đã dần dần trở lại Việt Nam. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với các TCPCPNN: Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ nhiệm vụ phát triển KTXH: "Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả. Tích cực tham gia 19 z các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới.