mở đầu và phát hiện vấn đề HS đã nắm rõ mục đích hoạt động và vấn đề nghiên cứu chúng ta cần tổ chức hoạt động thu thập thông tin cho các em. Đây là hoạt động nhận thức do chính HS chủ động tìm hiểu đáp ứng nhu cầu, mục đích nhận thức. Koontz và các tác giả [16] ta điểm qua khái niệm thu thập thông tin như sau: “Thu thập thông tin là quá trình xác định nhu cầu thông tin, tìm nguồn thông tin, thực hiện tập hợp thông tin theo yêu cầu nhằm đáp ứng mục tiêu đã được định trước”. Từ khái niệm ta có thể hiểu ngay các bước trong quá trình thu thập thông tin đó là: Xác định nhu cầu thông tin: Từ mục đích của hoạt động và vấn đề nghiên cứu ta xác định nhu cầu thông tin bằng việc phải trả lời các câu hỏi sau: + Thông tin này thu thập để làm gì, nhằm mục đích gì? + Thông tin này liên quan đến các khía cạnh nào? Việc xác định đúng nhu cầu thông tin sẽ giúp ta tìm kiếm các thông tin chính xác và đầy đủ, tránh hiện tượng dàn trải, sai lệch chủ đề, mục đích hoạt động.
Tìm nguồn thông tin: thông tin cần tìm kiếm liên quan vấn đề cần nghiên cứu có rất nhiều kênh và nguồn thông tin như: sách giáo khoa, sách báo, tạp chí khoa học, sách tham khảo, internet, đài phát thanh, truyền hình, từ quan sát thí nghiệm, thực hành, kinh nghiệm của bản thân, ý kiến của người thân, gia đình, xin ý kiến của chuyên gia về vấn đề nghiên cứu, trợ giúp của 8 GV, giao lưu câu lạc bộ, diễn đàn… Cần lưu ý về tính chính xác và đúng đắn từ các nguồn thông tin, tránh các nguồn thông tin sai lệch. Thực hiện tập hợp thông tin theo yêu cầu: đây là quá trình chính của quy trình thu thập thông tin. Từ các nguồn và kênh thông tin tìm được ta cần thu thập, tập hợp, xử lí thông tin đúng và phù hợp theo nhu cầu thông tin đã xác định từ trước, tránh dàn trải , lệch khỏi chủ đề tìm hiểu. Việc khai thác thông tin cần đảm bảo các yêu cầu sau: + Bảo đảm tính chính xác và độ tin cậy cao + Bảo đảm tính khách quan + Bảo đảm tính pháp lí Sau khi thu thập thông tin cần tập hợp và đánh giá thông tin xem có thực sự liên quan, hợp lí, đúng mục tiêu, nhu cầu tìm kiếm thông tin, có dễ hiểu và chính xác hay không.
c) Sắp xếp thông tin Bước tiếp theo vô cùng quan trọng khi ta đã thu thập xong thông tin là sắp xếp thông tin một cách mạch lạc, logic, theo trình tự khoa học, phù hợp với mạch ý tưởng, nhu cầu tìm hiểu thông tin. Ta cần thực hiện các bước sau: Tóm tắt thông tin cơ bản, thông tin mới, thông tin trọng tâm. So sánh, đối chiếu các thông tin để chọn những thông tin đầy đủ, chính xác và độ tin cậy cao hơn sau khi tóm tắt thông tin thu thập được, Loại bỏ yếu tố bình luận, dư luận trong thông tin. Sau khi sắp xếp các thông tin cần mã hóa, làm bản chỉ dẫn, các đề mục, phạm trù nhất định và phân loại thông tin theo nhóm, mục tìm hiểu.
d) Thực hiện các nghiên cứu Sau khi có được các thông tin chính xác thu thập được từ trước đó, các em sẽ lựa chọn và thực hiện nghiên cứu chủ đề nhỏ, ứng dụng thực tế hoặc 9 tìm cách giải quyết vấn đề trong quá trình HĐTNST đó. HS có thể thực hiện các nghiên cứu theo nhóm hoặc cá nhân. Các em cần thực hiện nghiên cứu theo các bước cơ bản sau: + Lập đề cương nghiên cứu chi tiết: Ta cần chi tiết hóa các vấn đề cần nghiên cứu, có thể điều chỉnh một vài nội dung trong quá trình nghiên cứu nếu cần thiết. Xác định mục tiêu chính, phụ của từng phần.
Xác định mẫu khảo sát bao gồm số lượng khảo sát, xây dựng phiếu khảo sát, đối tượng khảo sát. + Triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu: Tổng hợp tài liêu; phân loại tài liệu theo đề cương chi tiết đã định, xử lí số liệu, tài liệu, gia công tài liệu…; nghiên cứu theo từng phần mục trong đề cương chi tiết gồm các thao tác: làm thí nghiệm khảo sát, phỏng vấn và xin ý kiến chuyên gia, so sánh, ghi chép kết quả nghiên cứu cho từng phần mục. Lưu ý GV cần quan sát, can thiệp và điều chỉnh khi cần thiết. e) Xây dựng sản phẩm hoạt động - Muốn xây dựng sản phẩm hoạt động ta cần tập hợp các kết quả nghiên cứu đã đạt được, sắp xếp chúng theo trật tự logic.
Từ đó ta hình thành nên sản phẩm hoạt động muốn xây dựng đảm bảo mục tiêu, nhu cầu của hoạt động. Sản phẩm là ứng dụng của các kết quả nghiên cứu và mở rộng.Ta xây dựng sản phẩm và thực hiện sản phẩm hoạt động theo các bước sau: + Lựa chọn sản phẩm hoạt động liên quan đến chủ đề, vấn đề nghiên cứu của hoạt động hoặc là ứng dụng của hoạt động, tuyên truyền cho hoạt động này trong xã hội… + Tìm hiểu cách tiến hành làm sản phẩm hoạt động + Phân công nhiệm vụ giữa các thành viên để tiến hành làm sản phẩm + Làm sản phẩm 10 + Đánh giá, so sánh mục tiêu mục đích nghiên cứu, thực hiện sản phẩm với sản phẩm thực tế. + Đối chiếu với các tài liệu, dữ liệu khoa học đã có để kiểm tra sản phẩm có tốt hay không và điều chỉnh, bổ sung cho sản phẩm hoạt động được hoàn thiện. GV cần bổ sung, gợi ý, giúp đỡ cho HS khi cần thiết trong quá trình xây dựng sản phẩm hoạt động, trợ giúp các em kinh phí và nguyên liệu thực hiện sản phẩm.
f) Báo cáo sản phẩm, trao đổi, thảo luận, các ứng dụng hoặc mở rộng Sau khi có sản phẩm hoạt động cần viết báo cáo về sản phẩm và trình bày báo cáo với GV, hội đồng chuyên gia thông qua các hình thức: giới thiệu sản phẩm bằng power point, poster, bảng biểu, word… kết hợp với sản phẩm thực tế của nhóm hay cá nhân. Báo cáo sản phẩm xong thì việc trao đổi, thảo luận, lấy ý kiến của GV, của chuyên gia là vô cùng cần thiết. Giúp các em biết được ưu và nhược điểm của sản phẩm, từ đó hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm hoạt động. Từ các ý kiến, trao đổi, thảo luận đó các em có thể tiến hành thực hiện nghiên cứu các ứng dụng khác có liên quan, tạo cơ sở để nghiên cứu thêm các ứng dụng mở rộng từ sản phẩm của mình.
g) Đánh giá hoạt động - Đẩy mạnh đánh giá giữa HS với HS, tự đánh giá kết quả hoạt động của cá nhân và của nhóm. - Cần lưu ý cho HS dánh giá về sự phối hợp, hợp tác của từng HS trong quá trình hoạt động và xây dựng sản phẩm. 11 - Điều chỉnh, bổ sung đánh giá tính cố gắng của từng HS, từng nhóm, đánh giá chú trọng đến sự tiến bộ của HS. - Kết quả đánh giá toàn diện cả về phẩm chất và năng lực trong quá trình hoạt động, ý tưởng hoạt động và sản phẩm hoạt động, chỉ rõ ưu điểm, cái tốt cần phát huy và nhược điểm, cái xấu cần khắc phục và rèn luyện thêm như thế nào.
Việc dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn Theo quan niệm trong Chương trình giáo dục phổ thông của Quebec - Canada, được trích dẫn bởi các luận văn [14],[5] ta hiểu định nghĩa: “Năng lực giả quyết vấn đề thực tiễn là khả năng kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”. Năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn biểu hiện thông qua: Phát hiện/ xác định rõ vấn đề cần giải quyết; Thực hiện giải pháp; đánh giá cách làm của mình, khám phá các giải pháp mới.[7] 12 Trong dạy học bộ môn Vật lí ở trường phổ thông; dựa trên cấu trúc 3 thành phần của năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, dựa trên đặc điểm dạy học của môn Vật lí, chúng tôi cụ thể hóa các thành tố năng lực với các chỉ số hành vi và mức độ biểu hiện trong dạy học môn Vật lí như bảng 1. CẤU TRÚC NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Năng Các mức độ tương ứng với các chỉ số Thành lực hành vi tố năng Chỉ số hành vi thành lực Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 phần Xác định Mô tả được các Chỉ mô Ngôn Mô tả Mô tả Phát được khó sự kiện vật lí tả bằng ngữ mô gần đầy đầy đủ, hiện/ khăn, trong tình ngôn tả lộn đủ các chính xác mâu huống và khó ngữ đời xộn sự kiện xác các định thuẫn khăn đặt ra sống bằng sự kiện rõ trong các ngôn vấn sự kiện ngữ Vật đề thực tiễn lí cần Trình bày được Không Trình Trình Tự trình giải đặc điểm, biểu trình bày bày lộn bày gần bày đẩy quyết hiện của vấn được xộn, đủ các đủ các gắn đề. không đủ đặc điểm đặc với các đặc điểm thực điểm tiễn Mô tả Diễn đạt được Mô tả, Diễn đạt Diễn đạt Diễn đạt được các các đặc điểm, diễn đạt còn tương đầy đủ, dữ kiện biểu hiện, sự tùy tiện, thiếu, đối đầy chuẩn 13 và đặt ra kiện … theo không nhầm lẫn đủ bằng xác bằng câu ngôn ngữ khoa theo các nhiều ngôn ngôn hỏi/bài học.
ngôn các thuật ngữ khoa ngữ toán ứng ngữ khoa ngữ khoa học khoa học với vấn học học đề cần Phát biểu được Nêu Phát Phát Phát giải vấn đề cần giải được khó biểu biểu biểu rõ quyết quyết theo khăn được vấn được vấn vấn đề theo ngôn ngữ khoa nhưng đề nhưng đề nhưng bằng ngôn ngữ học. không còn khó diễn đạt câu hỏi vật lí phát biểu khăn, còn dài hay bài rõ vấn chư rõ ý dòng, toán đề hỏi lộn xộn.