Mở đầu gồm: lí do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; nhiệm vụ nghiên cứu; khách thể và đối tượng nghiên cứu; giả thuyết nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; cấu trúc luận văn. Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Công Nghệ ở trường Trung học cơ sở. Chương 2: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Công Nghệ ở trường Trung học cơ sở. Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Công Nghệ ở trường Trung học cơ sở.
Kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục 5 Luan van Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Công Nghệ ở Trường trung học cơ sở 1. Các công trình nghiên cứu hoạt động trải nghiệm trên thế giới Khổng Tử (551-479 TCN): “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”, tư tưởng này thể hiện tinh thần chú trọng học tập bằng thực hành, “học đi đôi với hành”. [11] Xôcrát (470-399 TCN) quan niệm: “Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; với những điều bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm nó”, đây có thể được coi là nền móng đầu tiên của học tập thông qua thực hành.
[10] John Locke (1632-1704), nhà triết học và giáo dục người Anh thế kỉ XVII - người kế thừa “Thuyết duy cảm” trong trường phái triết học của Becon và áp dụng vào giáo dục với việc coi trọng sự trải nghiệm thực tiễn, khơi dậy lòng ham mê, lòng say sưa hiểu biết cái mới, phát triển khả năng độc lập suy nghĩ, chủ động trong học tập. [24] Jean - Jacques Rousseau (1712-1778) thể hiện quan điểm giáo dục trong tác phẩm Emile (1762) với 3 vấn đề lớn được quan tâm: 1/ Người học, nhất là vốn kiến thức, kinh nghiệm của người học trong quá trình học tập. 2/ Môi trường dạy học, được coi là một yếu tố của quá trình dạy học, song được xem xét ở góc độ tiêu cực, như những “thói hư, tật xấu” ảnh hưởng tới người học. 3/ Người dạy phải giúp người học có được vốn kiến thức, kinh nghiệm đồng thời phải tổ chức môi trường học tập cho người học nhưng chủ yếu ở khía cạnh “ngăn cản tật xấu đột nhập vào trái tim con người”.
[24] Như vậy, học thông qua thực hành đã được các nhà giáo dục lớn trên thế giới nói tới cách đây vài thế kỉ, nhiều tư tưởng giáo dục đã thể hiện rõ sự tiến bộ và nhiều trong số đó đã bước đầu manh nha những luận điểm cơ bản của học thông qua thực hành. Nhưng hầu hết mới chỉ dừng lại ở sự quan tâm tới học thông qua thực hành, 6 Luan van xác định vai trò quan trọng của học thông qua thực hành mà chưa đưa ra được bản chất, đặc điểm, mô hình học thông qua thực hành trong quá trình dạy học. Điều đó cho thấy các nhà giáo dục lỗi lạc, các bậc hiền triết thời cổ đại đã không chỉ coi trọng việc tự học, tự rèn luyện, tu thân; phát huy mặc tích cực, sáng tạo, phát huy năng lực nội sinh; kết hợp học và hành, lý thuyết với thực tiễn; phát huy hứng thú, động cơ, ý chí của người học., mà còn gián tiếp gợi mở các kinh nghiệm, phương pháp tự học. Xét ở một phương diện nào đó, có thể coi các kinh nghiệm, phương pháp này là cơ sở, là nền móng đầu tiên của tư tưởng học trải nghiệm.
Nửa đầu thế kỉ XX, một triết lý giáo dục mới đã được nhà giáo dục người Mỹ, John Dewey (1859-1952) đề xướng nhằm cải cách giáo dục nhân loại. Tư tưởng triết học và sự nghiệp giáo dục đồ sộ của ông đã bao trùm đời sống trí thức Mỹ, ảnh hưởng lớn, làm thay đổi nền giáo dục Mỹ và nhiều nước. Ông đã viết nhiều tác phẩm như “Dân chủ và giáo dục” năm 1916, “Kinh nghiệm và giáo dục” năm 1938, “John Dewey về giáo dục”,. Công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm và giáo dục” (Experience and Education, 1938) đã làm rõ ý nghĩa của kinh nghiệm cá nhân và mối quan hệ giữa vốn kinh nghiệm của người học với hoạt động dạy học.
Ông cho rằng mỗi đứa trẻ, mỗi người học với học tập, chính là học qua trải nghiệm, thông qua nguyên lí giáo dục: “Nếu bạn nói, tôi sẽ quên. Nếu bạn chỉ dẫn, tôi sẽ nhớ một nửa. Và nếu bạn để tôi làm, tôi sẽ không thể quên”[18]. Lý thuyết của John Dewey về kinh nghiệm dựa trên hai nguyên lý chính, đó là nguyên lý liên tục (continuity) và nguyên lý tương tác (interaction).
Nguyên lý liên tục khẳng định rằng những kinh nghiệm mà con người tích lũy được trong quá khứ sẽ ảnh hưởng đến tương lai của người đó, còn nguyên lý tương tác hàm ý rằng tương tác của kinh nghiệm quá khứ với hoàn cảnh hiện tại sẽ tạo ra kinh nghiệm mới, kinh nghiệm trong hiện tại. Ứng dụng vào giáo dục, lý thuyết của John Dewey hàm ý rằng người thầy không thể không quan tâm đến những kinh nghiệm quá khứ của người học và kinh nghiệm quá khứ ấy cũng không nhất thiết phải là tiêu cực hay tích cực đối với quá trình giáo dục. Người thầy không thể kiểm soát quá khứ của người học, nhưng có thể tổ chức bối cảnh học tập phù hợp để tạo cho người học kinh nghiệm hiện tại thông qua tương tác giữa bối cảnh học tập với kinh nghiệm quá khứ của người học. “Giáo dục – John Dewey viết – là một hoạt động của cuộc sống, chứ không phải là sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai”[19].
7 Luan van Nhìn chung các tác phẩm đều hướng tới việc nhà trường có nhiệm vụ tạo ra điều kiện tốt nhất để người học phát huy năng lực và tư duy qua việc trải nghiệm vào đời sống xã hội. Nhà trường và giáo viên phải tạo ra môi trường để người học được trải nghiệm các hoạt động chứa đựng cả những tình huống khó khăn, để từ đó họ tự tìm tòi, xây dựng kiến thức thông qua “kinh nghiệm” và “tư duy”, qua “trải nghiệm” của họ. Người học được khuyến khích tham gia các hoạt động của nhà trường, của lớp học một cách sáng tạo. Zadek Kurt Lewin (1890 – 1947), chuyên gia về lĩnh vực hành vi tổ chức, động lực nhóm và sự phát triển phương pháp luận của nghiên cứu hành động, đã thể hiện mối quan tâm chính là sự kết hợp giữa lí luận và thực tiễn.
Qua nghiên cứu, Lewin cho thấy, khi xuất hiện một cuộc xung đột biện chứng giữa kinh nghiệm cá nhân với việc giải quyết nhiệm vụ học tập thì kết quả học tập sẽ đạt được tối đa. Theo Lewin, cuộc xung đột này có vai trò rất quan trọng làm thay đổi và giúp con người tiến bộ hơn. Đồng thời, Lewin cũng đưa ra công trình nghiên cứu đề cập đến việc học tập dựa vào trải nghiệm – công trình “T-nhóm và phương pháp phòng thí nghiệm”. Trong đó, tác giả đánh giá cao vai trò của kinh nghiệm cá nhân đối với học tập dựa vào trải nghiệm.
Lewin đề xuất nên mô hình nghiên cứu quá trình thay đổi hành vi bao gồm bốn giai đoạn: Kinh nghiệm cụ thể (Concrete experience), Quan sát và phản ánh (Observations and reflections), Hình thành khái niệm trừu tượng và khái quát (Formation of abstract concepts and generalizations), và Kiểm tra tác động của khái niệm trong tình huống mới (Testing implications of concepts in new situations) được thể hiện trong hình 1. Mô hình này được còn gọi với tên là mô hình học tập dựa trên kinh nghiệm của Lewin. [36] 8 Luan van Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu hành vi của Lewin Lev Vygotsky – nhà tâm lí học người Nga (1896 – 1934) đã đề cập trong một nghiên cứu của mình lí thuyết về “vùng phát triển gần” (the Zone of Proximal Development). Nội dung của “vùng phát triển gần” chính là những giá trị và kinh nghiệm thường trực ở mỗi cá nhân.
Tiềm năng của mỗi cá nhân được quy định một cách tương đối dựa vào mức trải nghiệm và di truyền. Vygotsky cho rằng, chỉ quan tâm đến trình độ phát triển hiện tại của người học thì chưa đủ, đối với giáo dục thì quan tâm đến trình độ phát triển tiềm năng mới là quan trọng. Giáo dục tốt là phải nhằm vào tiềm năng của người học, phải dẫn dắt người học phát triển tiềm năng. “Vùng phát triển gần” nhấn mạnh vai trò hướng dẫn của giáo viên (hoặc những người có kiến thức và kinh nghiệm nhiều hơn) với người học, và nhiệm vụ tìm cách truyền đạt lại các kiến thức và kinh nghiệm này cho người học.
Khi người học tiếp xúc với môi trường qua giao tiếp, học tập, làm việc,. những tiềm năng này được huy động từ vốn kinh nghiệm sẵn có để thực hiện một cách tập trung vào nhiệm vụ cụ thể, có chia sẻ, thử thách,. dẫn đến vốn kinh nghiệm này được cải thiện, phát triển ở mức cao hơn mà đặc trưng là năng lực giải quyết vấn đề độc lập. Theo một chu kỳ, trình độ này lại trở thành kinh nghiệm sẵn có, làm nền tảng trong hiện tại, qua thử thách, điều chỉnh rồi lại làm giàu kinh nghiệm đó ở mức phát triển cao hơn.
Cứ như thế, vốn kinh nghiệm cá nhân lại phát triển hơn ở chu kỳ sau đó. Như vậy, nhiệm vụ của người dạy không chỉ phải xác định được vùng phát triển hiện tại mà còn phải xác định được vùng phát triển có thể đạt được. [8] Jean Piaget (1896 – 1980), nhà tâm lí học phát triển người Thụy Sỹ, đã thực hiện một nghiên cứu về kinh nghiệm và kiến thức của con người. Ông cho rằng trí thông minh của một cá nhân được định hình bởi kinh nghiệm của chính người đó.
Đồng 9 Luan van thời, trí thông minh đó là sản phẩm của quá trình tương tác giữa con người với môi trường sống xung quanh của chính họ chứ nó không phải là đặc tính bẩm sinh [8]. Jean Piaget tin rằng trí thông minh của trẻ em đến từ hành động, thông qua những hoạt động, đứa trẻ xây dựng nên kiến thức. [6] Edgar Dale (1922 - 1999), một nhà giáo dục người Mỹ, người đã phát triển tháp kinh nghiệm. Năm 1946, Dale đã giới thiệu khái niệm tháp kinh nghiệm trong sách giáo khoa về phương pháp nghe nhìn trong giảng dạy.
Ông đã sửa đổi nó cho lần in thứ hai vào năm 1954 và một lần nữa vào năm 1969.