mở đầu về yếu tố biến cố ngẫu nhiên và xác xác suất của biến cố suất ngẫu nhiên trong ví dụ đơn giản. 21 - Nhận biết được xác suất của biến cố ngẫu nhiên trong ví dụ đơn giản. - Thực hành bằng phần mềm trong điều kiện cho phép của nhà trường. HÌNH HỌC Không đề cập - Các khối hình trong thực tiễn: Hình hộp chữ nhật và hình lập phương; hình lăng trụ Hình đứng tam giác và lăng học trụ đứng tứ giác (từ trực lớp 8).
quan - Thực hành trong phòng máy tính với phần mềm Toán học (nếu nhà trường có điều kiện). Hình - Giữ nguyên các Khái niệm góc - Nhận biết và vẽ tia học hình học cơ bản: nhọn, góc vuông, phân giác của một góc. phẳng hai đường thẳng góc tù, hai đường - Giải bài toán có nội song song, tiên đề thẳng vuông góc. dung hình học và vận Euclid về đường dụng giải quyết vấn đề thẳng song song.
thực tiễn liên quan đến - Khái niệm định lý, hình học. chứng minh một - Thực hành trong định lý. phòng máy tính với 22 - Tam giác, tam giác phần mềm toán học bằng nhau, tam (nếu nhà trường có giác cân. điều kiện thực hiện): - Quan hệ giữa vẽ hình, thiết kế đồ đường vuông góc họa.
và đường xuyên, - Không đề cập hai các đường đồng đường thẳng vuông quy của tam giác. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH VÀ TRẢI NGHIỆM Thực - Tìm hiểu một số kiến hành thức về tài chính (kinh và trải doanh, ngân hàng, nghiệm thuế .) - Thực hành ứng dụng các kiến thức toán học vào thực tiễn và các chủ đề liên môn (lịch sử, địa lý.) - Tổ chức các hoạt động ngoài giờ chính khóa như thực hành ngoài lớp học, dự án học tập, các trò chơi học toán, cuộc thi về toán. - Tổ chức giao lưu với học sinh có khả năng và yêu thích môn toán trong trường và trường bạn (nếu nhà trường có 23 điều kiện). Đặc điểm phát triển nhận thức và tâm lý lứa tuổi của học sinh lớp 7 Học sinh trung học cơ sở nói chung (từ 11 đế 15 tuổi) và học sinh lớp 7 nói riêng là lứa tuổi chuyển từ giai đoạn ngây thơ, hồn nhiên ở giai đoạn tiểu học sang một giai đoạn dần trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng “.
Đây còn được gọi là giai đoạn chuyển từ “trẻ con” sang “vừa trẻ con, vừa người lớn”. Giai đoạn này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ. Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 7 Tác giả Lê Văn Hồng [9] đã chỉ ra rằng sự chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành của mỗi cá nhân thể hiện dưới nhiều khía cạnh: sự thay đổi về cơ thể, biến đổi tâm lý, các mối quan hệ với người lớn và với bạn bè cùng trang lứa, hoạt động học tập, hoạt động xã hội… đã làm xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành. Quá trình hình thành cái mới thường diễn ra không đồng đều giữa các thiếu niên với nhau, giữa các mặt ở trong mỗi thiếu niên (trong thiếu niên tồn tại song song cả “tính trẻ con” và “tính người lớn”).
Điều đó xuất phát từ sự khác nhau trong hoàn cảnh sống và hoạt động cá nhân của từng em. Một số yếu tố có tác động kìm hãm tính người lớn (hầu hết các em chỉ tập trung vào việc học, nhiều phụ huynh chăm sóc các em về mọi mặt, không để các em chăm lo đến việc gia đình…); mặt khác lại bao hàm cả những việc thúc đẩy yếu tố tính người lớn (sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, nguồn thông tin các em thu nhận được bằng nhiều con đường khác nhau rất phong phú, một số cha mẹ quá bận rộn để cho trẻ có tính tự lập sớm…) [9]. Những yếu tố phát triển “tính Những yếu tố kìm hãm “tính người người lớn” lớn” Sự phổng phao của tuổi dậy thì, sự Một số trẻ cao hơn hẳn giai đoạn phát triển hệ xương và sự tăng cường trước đó và cao hơn hẳn các bạn cùng 24 hoạt động của tuyến yên, tuyến sinh lớp dẫn đến tâm lý tự ti và tự tách dục, tuyến giáp, tuyến thượng thận tạo mình. ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ.
Sự phát triển cơ thể thiếu niên diễn ra Sự phát triển không cân đối về thể không cân đối. Hệ xương (đặc biệt là chất dẫn đến sự vụng về, lóng ngóng xương tay, chân) dài ra rất nhiều của hành vi, cảm thấy không tự tin, nhưng lồng ngực lại phát triển chậm không thoải mái về cơ thể mình. Sự phát triển giữa bàn tay và các đốt Trẻ cảm thấy mệt mỏi, nhức đầu, ngón tay không đồng đều. Sự phát chóng mặt, dễ xúc động, bực tức, tâm triển hệ tim mạch không cân đối, thể trạng thay đổi thất thường.
tích tim tăng nhanh nhưng đường kính các mạch máu phát triển chậm, gây rối loạn tuần hoàn máu. Gia đình, thầy cô, bạn bè đặt yêu cầu Chính người lớn lại có lúc coi trẻ là cao hơn với trẻ, coi trẻ đã lớn. Các em đứa trẻ chưa trưởng thành. đã có những vai trò nhất định trong gia đình, được thừa nhận là một thành viên tích cực của gia đình, được cha mẹ, anh chị giao cho những trọng trách như: chăm sóc các em nhỏ, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa.
Điều quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với trẻ là bố mẹ không còn coi các em là bé nhỏ nữa, mà quan tâm đến ý kiến của các em hơn, dành cho các em những quyền sống độc lập hơn, đề ra những yêu cầu cao hơn, các em được 25 tham gia bàn bạc một số công việc của gia đình và đã biết quan tâm đến việc xây dựng, bảo vệ uy tín của gia đình. Những sự thay đổi đó đã làm cho trẻ ý thức được vị thế của mình trong gia đình và động viên, kích thích các em hoạt động tích cực, độc lập, tự chủ. Cá nhân trẻ có nhu cầu khẳng định Trẻ còn sống phụ thuộc vào gia đình. Đặc điểm của hoạt động học tập trong trường trung học cơ sở Khi bước vào giai đoạn trung học, trẻ phải đối mặt với những thay đổi trong điều kiện sống và học tập.
Ở tiểu học, trẻ được học tập một cách có hệ thống về các sự vật, hiện tượng. Vì vậy, trẻ dễ dàng hiểu được những mối quan hệ cụ thể, đơn giản giữa các sự kiện và hiện tượng đó. Ở trường trung học, việc học tập trở nên phức tạp hơn. Học sinh được chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những cơ sở khoa học; được tiếp cận những nội dung học tập trừu tượng, sâu sắc và phong phú hơn.
Điều đó đòi hỏi các em phải có sự thay đổi về cách học. Trẻ cần hình thành mức độ độc lập trong các hoạt động học tập, từ chỗ chưa có kỹ năng để tổ chức việc học, qua những hình thức trung gian như độc lập làm bài tập ở nhà… tới mức độ cao như độc lập tìm hiểu, nắm vững các tài liệu mới. Ở giai đoạn này, mối quan hệ giữa học sinh và giáo viên cũng có một số thay đổi. Các môn do nhiều thầy cô giảng dạy.
Mỗi giáo viên có cách trình bày, có phương pháp giảng dạy độc đáo và yêu cầu của riêng mình. Vì vậy, mỗi môn học cũng cần có những phương pháp học tập khác nhau. Ban đầu, sự thay đổi này sẽ tạo ra những khó khăn nhất định cho các em (nhất là những em gặp khó khăn trong học tập). Mặt khác, nó cũng tạo điều kiện để các em phát triển dần phương thức nhận thức người khác [9].
26 Ở giai đoạn này, học sinh có thế mạnh là luôn sẵn sàng một cách có chọn lựa những khía cạnh liên quan đến việc học tập nêu những việc đó thể hiện được tính người lớn theo suy nghĩ của trẻ. Trẻ thường bị thu hút với việc tổ chức các hoạt động của lớp, trường, đảm nhận những vai trò trong lớp; thu hút vào các tài liệu phức tạp và có khả năng thiết kế những hoạt động vượt ra khỏi khuôn khổ nhà trường. Trẻ đã hình thành những động cơ học tập mang ý nghĩa xã hội lớn và có cấu trúc phức tạp. Hầu hết các em đã nhận thức được khái niệm “học tập”, nhiều khi việc thu nhận kiến thức của các em vượt ra ngoài giới hạn nhà trường và chương trình học tập.
Các em đã ý thức được sự cần thiết và vai trò của việc tiếp thu tri thức đối với bản thân mình. Nhiều em đã có yếu tố tự học, hình thành nên sự hứng thú, yêu thích đối với môn học; có em đã có biểu hiện say mê, tập trung thời gian để suy nghĩ vào đối tượng gây hứng thú và ảnh hưởng đến những công việc khác. Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết có thể khiến cho sự hứng thú của thiếu niên dễ phân tán và không bền vững; và có thể dẫn đến sự hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm túc đối với các lĩnh vực khác trong cuộc sống. Một trong những khó khăn về nhận thức của trẻ trong giai đoạn này là chưa làm chủ được các phương pháp thực hiện và hình thức mới của hoạt động học tập, dẫn đến tâm thế, sự sẵn sàng của các em không dễ được thực hiện hóa.
Vì vậy, giáo viên là người đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục, định hướng giúp học sinh hình thành những phẩm chất, năng lực cần thiết trong quá trình học tập cũng như thực tế cuộc sống sau này. Đặc điểm sự phát triển trí tuệ của học sinh trung học cơ sở Theo tác giả Lê Văn Hồng cùng các cộng sự [9], sự phát triển trí tuệ của tuổi thiếu niên thể hiện rất rõ sự chuyển tiếp từ tính chất không chủ định sang tính chất có chủ định. Ở thiếu niên, tính chất không chủ định không giảm đi, tính chất chủ định đang phát triển mạnh hơn nhưng cũng chưa hoàn toàn chiếm ưu thế. Sự chuyển tiếp này thể hiện rõ ở tất cả các quá trình nhận thức: a) Tri giác 27 Tri giác của thiếu niên có trình tự, có kế hoạch và hoàn thiện hơn.
Các em đã có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng. b) Trí nhớ Trí nhớ của thiếu niên dần dần mang tính chất của những quá trình có điều khiển, điều chỉnh và có tổ chức. Các em có tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu, từ ngữ, trừu tượng. Các em có thể thiết lập những mối quan hệ phức tạp hơn giữa tài liệu mới và tài liệu cũ, biết liên hệ tri thức giữa các môn học.