Chương 1: Những vấn đề chung về mạng lưới thư viện công cộng và thư viện công cộng tại thành phố Hải Phòng. Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động mạng lưới thư viện công cộng tại thành phố Hai Phong Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động mạng lưới thư viện công cộng tại thành phố Hải Phòng. i Chuong 1 NHUNG VAN DE CHUNG VỀ MẠNG LƯỚI THƯ VIEN CONG CONG VA THU VIEN CONG CONG TAI THANH PHO HAI PH! 1. Những vấn đề chung về mạng lưới thư viện công cộng 1.
Khái niệm thuc viện công cộng và mạng lưới thu viện công cộng. Thư viện Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (ƯNESCO) cho rằng: Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phim định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe - nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tô chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí [35] Theo TCVN 5453 - 1991: “Thư viện là cơ quan (hoặc một bộ phận của cơ quan) thực hiện chức năng thu thập, xử lý, bảo quản tài liệu và phục vụ bạn đọc đồng thời tiến hành tuyên truyền, giới thiệu các tài liệu đó”.152] Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Thư viện là nơi lưu giữ sách báo, tài liệu và tổ chức cho ban đọc sử dụng” [20, tr.970] Ngoài ra còn nhiều định nghĩa khác nhau về thư viện. Tuy nhiên có một thuộc tính chung của thư viện mà định nghĩa nào cũng đề cập tới: thư viện là nơi thu thập, xử lý, bảo quản tài đồng thời là nơi tổ chức sử dụng tài liệu có hiệu quả trong cộng đồng dân cư. Điều 1, Pháp lệnh Thư viện năm 2001 quy định: Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc; thu thập, tàng trữ, tô chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung.
cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [4, tr21 - 22] Thư viện công cộng 12 Căn cứ vào đặc điểm vốn tài liệu và đối tượng phục vụ, có thể phân chia thư viện thành nhiều loại hình khác nhau. Ở nước ta, theo Pháp lệnh Thư viện, có hai loại hình thư viện chủ thư viện công cộng và thư viện chuyên ngành. Thư viện công cộng là loại hình thư viện phục vụ tắt cả các tầng lớp nhân dân trong nước, đồng thời do các chính quyền địa phương thành lập và duy trì hoạt động. Tuyên ngôn của UNESCO về thư viện công cộng nêu rõ thư viện công cộng là trung tâm thông tin địa phương tạo cho người sử dụng của mình sự tiếp cận nhanh chóng tới trí thức và thông tin ở tắt cả các dạng thức.
Thư viện công cộng là thư viện do Nhà nước thành lập và duy trì hoạt động theo những. nguyên tắc nhất định. Thư viện công cộng được tổ chức theo đơn vị hành chính - lãnh thổ, bao gồm : thư viện quốc gia, các thư viện tỉnh/ thành phố, thư viện quận/ huyện, thư viện và phòng đọc sách xã/ phường. Thu vign công cộng có vốn sách thuộc tắt cả các ngành khoa học, phục vụ cho mọi tằng lớp nhân dân địa phương, không phân biệt lứa tuổi, nghề nghiệp, dân tộc, đảng phái.
Việc phục vụ trong. thư viện công cộng theo nguyên tắc tiếp cận ngang bằng được dành cho tắt cả mọi người không phân biệt tuổi tác, chủng tộc, giới tính, tôn giáo, quốc tịch, ngôn ngữ và địa vị xã hội. Chính vi vay trong. thư viện công cộng có những dịch vụ hoặc tài liệu đặc biệt cần phải được cung cắp cho những người mà vì lý do nào đó có thể sử dụng các tài liệu và dịch vụ thông thường ví dụ như đại diện của các nhóm ngôn ngữ thiểu số, những người tàn tật hay những người đang nằm viện hoặc đang bị phạt tù Mạng lưới thư viện công cộng Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng do Hoàng Phê chủ biên, “mạng lưới là hệ thống những đường đan nối với nhau có một chức năng chung, là hệ thống tổ chức gồm nhiều cá nhân hoặc đơn vị có cùng một chức năng cụ thể” [20, tr.474] Như vậy, mạng lưới bao gồm các thành tố được tổ chức, sắp xếp, kết nối theo một hệ thống có cùng một chức năng chung.Theo nghĩa này, các thư viện trong cùng một vùng, lãnh thổ có cùng chức năng, nhiệm vụ, liên kết chặt chẽ với nhau theo một cách thức nào đó có thể gọi là mạng lưới thư viện.
Trên một địa bàn nhất định, các thư viện thường phải liên kết phối hợp với nhau để đáp ứng đầy đủ nhu cầu tin của mọi tầng lớp nhân dân, tạo thành một mạng lưới thư 13 viện. Trong cuốn “Cẩm nang nghề thư viện”, TS. Lê Văn Viết cho rằng “Mạng lưới thư viện là tập trung tắt cả các loại hình thư viện trên địa bàn lãnh thổ nhất định” [37, tr.36] Các thư viện cũng có thể liên kết với nhau để thực hiện những nhiệm vụ chuyên biệt. Các thư viện công cộng trong phạm vi một tỉnh có nhiệm vụ phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương.
Mạng lưới thư viện công cộng là hệ thống tổ chức, nối kết các thư viện tỉnh/ thành phó, quận/ huyện, xã/ phường có cùng chức năng xây dựng vốn tài liệu và tổ chức sử dụng có hiệu quả vốn tài liệu đó trong cộng đồng dân cư. Vấn đề tổ chức và hoạt động của mạng lưới thư viện công cộng Tổ chức mạng lưới thư viện công cộng. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2005: “Tổ chức là hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội (cá nhân, tập thể) nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng lợi ích của các thành viên; cùng nhau hành động vì mục tiêu chung.455] Theo Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1991, do Văn Tân chủ biên, Tổ chức là: “Sắp xếp. các bộ phận cho ăn nhập với nhau để toàn bộ là một cơ cấu nhất định” [23, tr.821] Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng do Hoàng Phê chủ biên được Trung tâm Từ điển học và Nxb Đà Nẵng xuất bản năm 2009: “Tổ chức (Ðg) là sắp xếp, bố trí cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định” “Tổ chức là sắp xếp, bố trí cho thành có trật tự, nề nếp”, “Tổ chức: làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất” “Tổ chức (d) là tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung” [20, tr.819] Vậy, tô chức là sự sắp đặt, đưa vào nền nếp các yếu tố để cùng thực hiện một mục đích, cùng hành động vì mục tiêu chung nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất 'Tổ chức mạng lưới thư viện công cộng là tạo một cơ cấu thư viện hợp lý để vận hành bộ máy đó một cách hiệu quả nhất; là sắp xếp, bố trí.
các thư viện công cộng theo một trật tự, nền nếp nhất định và tạo những điều kiện mọi mặt thuận lợi (cơ sở vật chất - kỹ thuật, nhân sự, kinh 14 phí.) để (thư viện đó tồn tại và phát triển) tiến hành hoạt động nhằm thực hiện các chức năng xây dựng và tổ chức việc sử dụng vốn tài liệu thư viện phục vụ nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương. Như vậy xem xét tổ chức mạng lưới thư viện công cộng ở một tỉnh cần phải làm rõ các khía cạnh: cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, cơ cấu nhân lực và sử dụng cơ sở vật chất. Hoạt động của mạng lưới thư viện công cộng “Theo Từ điền Bách khoa Việt Nam, hoạt động là “một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình” 134. 341] Theo Tir dién tiếng Việt của Văn Tân, thì hoạt động là: “Toàn thê những việc làm của một tô chức, một cá nhân, có liên quan với nhau để quy vào một mục đích chung, thường trong một lĩnh vực xã hội” [23, tr.
435] Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng do Hoàng Phê chủ biên của Trung tâm Từ điển học do NXB Đà Nẵng xuất bản năm 2009: “Hoạt động (đ) là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, trong một lĩnh vực nhất định” “Hoạt động (Ðạ): vận động, cử động, thường là nhằm một mục đích nào đó”; “Thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể” [20, tr.342] Như vậy, hoạt động là toàn bộ những việc làm của tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện các nhiệm vụ có liên quan mật thiết với nhau theo chức năng đề đạt được một mục đích. Hoạt động của mạng lưới thư viện công cộng là toàn bộ các công việc thuộc chức năng và nhiệm vụ của thư viện công cộng, bao gồm: xây dựng và phát triển vốn tài liệu, xử lý tài liệu, tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện nhằm đáp ứng nhu cầu thông tỉn, học tập, nghiên cứu và giải trí của mọi ting lớp nhân dân, phục vụ nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương. Với ý nghĩa đó, thư viện có vai trò hết sức to lớn trong đời sống chính trị của toàn xã hội. Thu viện góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thư viện trang bị tri 15 thức và kỹ năng nghề nghiệp trong suốt cuộc đời con người. Vì vậy, sự nghiệp thư viện nói chung và thư viện công cộng nói riêng cần phải có sự quan tâm và sự đầu tư đúng mức của các cấp ủy và chính quyền mới thực sự đem lại ý nghĩa đích thực và đúng đắn. Mối quan hệ giữa tổ chức và hoạt động 'Tổ chức và hoạt động là hai vấn đề có quan hệ biện chứng. Tổ chức hợp lý là điều kiện cho hoạt động có hiệu quả.
Quá trình hoạt động sẽ giúp cho việc kiểm chứng tổ chức có thích hợp hay không. Trong thực tiễn hoạt động của một tổ chức bao giờ cũng biến đổi, phát triển dưới tác động của môi trường xã hội.