Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong các doanh nghiệp sản xuất và xây dựng cơ bản, nguyên vật liệu là đối tượng lao động thể hiện dưới dạng vật hóa, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và cấu thành nên thực thể sản phẩm. Khác với tư liệu lao động, nguyên vật liệu khi đưa vào sử dụng bị tiêu hao toàn bộ trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh, không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu và chuyển dịch toàn bộ giá trị một lần vào chi phí sản xuất cũng như giá thành sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn, vốn lưu động dự trữ và tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Do đó, việc theo dõi, quản lý và tổ chức hạch toán chính xác các khâu thu mua, vận chuyển, bảo quản, dự trữ và xuất dùng có ý nghĩa trực tiếp trong việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, ngăn ngừa thất thoát và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lương Thị Hồng Nhung (lớp QT 1003K, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) tập trung giải quyết bài toán tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại một doanh nghiệp xây dựng cụ thể. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định theo các nội dung sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.
- Tìm hiểu, phân tích đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế toán tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Vật tư Vinh Lập.
- Khảo sát thực trạng tổ chức hạch toán ban đầu, quy trình luân chuyển chứng từ, phương pháp kế toán chi tiết, phương pháp tính giá và kế toán tổng hợp nguyên vật liệu tại đơn vị thực tập.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý và hạch toán nguyên vật liệu tại công ty trên cơ sở đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác tổ chức kế toán nguyên vật liệu (bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, tài khoản sử dụng, sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp, phương pháp đánh giá và tính giá nguyên vật liệu nhập - xuất kho).
- Phạm vi không gian: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Vật tư Vinh Lập (địa chỉ tại xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thực tế được thu thập và phân tích tập trung vào quý IV năm 2009, trọng tâm là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng 12 năm 2009.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các quy định pháp lý và chuẩn mực kế toán của Nhà nước:
- Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 02 (VAS 02) – "Hàng tồn kho": Làm căn cứ xác định các nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu, gồm nguyên tắc giá gốc, nguyên tắc thận trọng (ghi nhận theo giá trị thuần có thể thực hiện được khi giá trị thuần thấp hơn giá gốc) và nguyên tắc nhất quán trong suốt niên độ kế toán; đồng thời quy định bốn phương pháp xác định giá trị thực tế xuất kho (phương pháp giá đích danh, phương pháp nhập trước - xuất trước FIFO, phương pháp nhập sau - xuất trước LIFO, phương pháp giá thực tế bình quân).
- Chế độ Kế toán Doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính: Định khung hệ thống danh mục chứng từ vật tư (mẫu 01-VT đến 07-VT, hóa đơn GTGT mẫu 01GTGT-3LL), hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp (tập trung vào tài khoản 152 và các tài khoản liên quan như 151, 331, 133, 159, 611, 621, 627) và hình thức tổ chức sổ kế toán Nhật ký chung.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu học thuật và phương pháp chuyên ngành kế toán:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Thu thập, phân loại và hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, vai trò, tiêu thức phân loại nguyên vật liệu, nhiệm vụ của kế toán và các mô hình tổ chức kế toán chi tiết, tổng hợp hàng tồn kho.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Khảo sát thực tế quy trình sản xuất xây lắp, mô hình tổ chức quản lý, bộ máy kế toán và dòng luân chuyển chứng từ tại Công ty TNHH Thương mại và Vật tư Vinh Lập.
- Phương pháp chứng từ kế toán và đối ứng tài khoản: Thu thập chứng từ gốc thực tế (hóa đơn GTGT, biên bản kiểm nghiệm, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho), phân tích trình tự luân chuyển chứng từ và mô tả cách thức định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ kế toán.
- Phương pháp tính giá: Áp dụng công thức tính giá thực tế nhập kho theo nguồn hình thành và công thức tính đơn giá bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ.
Nguồn dữ liệu của đề tài gồm dữ liệu thứ cấp từ văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình kế toán tài chính và dữ liệu sơ cấp thực tế do Phòng Tài chính - Kế toán Công ty TNHH Thương mại và Vật tư Vinh Lập cung cấp (các chứng từ gốc phát sinh trong tháng 12/2009 như Hóa đơn GTGT số 015380, Hóa đơn GTGT số 16678, hồ sơ dự toán công trình, các sổ chi tiết nguyên vật liệu và thẻ kho).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
Trong phần này, tác giả trình bày một cách có hệ thống toàn bộ nền tảng lý thuyết về hạch toán kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất, bao gồm các nội dung chính:
Bản chất và phân loại nguyên vật liệu: Khóa luận làm rõ vai trò của nguyên vật liệu là đối tượng lao động cấu thành nên thực thể sản phẩm, chuyển dịch toàn bộ giá trị một lần vào chi phí sản xuất. Tác giả phân loại nguyên vật liệu theo 4 tiêu thức:
- Theo công dụng chủ yếu: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, thiết bị xây dựng cơ bản, vật liệu khác.
- Theo nguồn hình thành: Mua ngoài, tự sản xuất, nhận cấp phát, góp vốn liên doanh, biếu tặng.
- Theo quyền sở hữu: Vật liệu tự có, vật liệu nhận gia công hoặc giữ hộ.
- Theo mục đích và nơi sử dụng: Dùng trực tiếp cho sản xuất, dùng cho quản lý phân xưởng, dùng cho quản lý doanh nghiệp, dùng cho tiêu thụ sản phẩm.
Tác giả cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống danh điểm vật tư bằng chữ số kết hợp chữ cái để chuẩn hóa quản lý trên máy tính.
Nhiệm vụ quản lý và kế toán nguyên vật liệu: Quản lý vật liệu đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ ở 4 khâu: thu mua (chất lượng, giá cả, tiến độ), bảo quản (kho tàng, tránh hao hụt), sử dụng (định mức, tiết kiệm) và dự trữ (định mức tối đa, tối thiểu tránh ứ đọng vốn). Kế toán phải thực hiện 6 nhiệm vụ cơ bản: phân loại đánh giá đúng chuẩn mực, ghi chép phản ánh tổng hợp biến động nhập - xuất - tồn, kiểm tra chấp hành định mức tiêu hao, phân bổ chi phí hợp lý, kiểm kê đánh giá tồn kho và tổ chức hệ thống sổ sách chứng từ khoa học.
Phương pháp đánh giá nguyên vật liệu:
- Giá thực tế nhập kho: Đối với hàng mua ngoài, giá trị nhập kho bằng giá mua thực tế cộng các chi phí thu mua (vận chuyển, bốc xếp, bảo quản) cộng các loại thuế không được hoàn lại trừ các khoản giảm trừ (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua). Tác giả phân biệt rõ: doanh nghiệp nộp thuế GTGT khấu trừ thì giá mua không gồm VAT, doanh nghiệp nộp thuế trực tiếp thì giá mua bao gồm VAT. Đối với vật liệu tự chế biến hoặc thuê ngoài gia công, giá trị gồm giá xuất kho cộng chi phí gia công chế biến.
- Giá thực tế xuất kho: Trình bày chi tiết công thức và điều kiện áp dụng của 4 phương pháp theo VAS 02: phương pháp giá đích danh (dùng cho vật liệu giá trị cao, riêng biệt), phương pháp FIFO (thích hợp khi giá ổn định hoặc giảm dần), phương pháp LIFO (chuyển biến động giá vào chi phí hiện hành nhưng làm giá trị tồn kho xa rời thực tế), phương pháp giá thực tế bình quân (bình quân cả kỳ dự trữ và bình quân liên hoàn sau mỗi lần nhập).
- Phương pháp giá hạch toán: Sử dụng giá kế hoạch hoặc giá ổn định cho công tác ghi chép hàng ngày, cuối tháng tính hệ số chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán để quy đổi giá trị xuất dùng và tồn kho.
Tổ chức kế toán chi tiết nguyên vật liệu: Trình bày danh mục chứng từ bắt buộc theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC và phân tích 3 phương pháp kế toán chi tiết:
- Phương pháp ghi thẻ song song: Kho theo dõi về mặt số lượng trên thẻ kho; phòng kế toán mở sổ chi tiết theo dõi cả số lượng và giá trị; cuối tháng đối chiếu số lượng giữa thẻ kho và sổ chi tiết.
- Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển: Kho ghi thẻ kho về số lượng; phòng kế toán lập bảng kê nhập, bảng kê xuất và chỉ ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển một lần vào cuối tháng.
- Phương pháp sổ số dư: Kho ghi thẻ kho và ghi số lượng tồn kho cuối tháng vào sổ số dư; phòng kế toán lập bảng lũy kế nhập/xuất và định kỳ áp giá hạch toán vào số dư trên sổ số dư để đối chiếu theo chỉ tiêu giá trị.
Tổ chức kế toán tổng hợp nguyên vật liệu:
- Phương pháp kê khai thường xuyên: Sử dụng TK 152 (chi tiết từ 1521 đến 1528), TK 151, TK 331, TK 133, TK 159. Khóa luận cung cấp sơ đồ hạch toán và hướng dẫn định khoản các trường hợp đặc thù: mua ngoài hàng và hóa đơn cùng về, hàng thừa so với hóa đơn, hàng thiếu so với hóa đơn, và trường hợp hàng về trước hóa đơn chưa về (ghi giá tạm tính Nợ TK 152 / Có TK 331; sang tháng sau điều chỉnh theo 3 cách: dùng bút toán đỏ xóa giá tạm tính và ghi lại theo hóa đơn, ghi bổ sung số thiếu, hoặc ghi âm số thừa).
- Phương pháp kiểm kê định kỳ: Sử dụng TK 611 ("Mua hàng" - gồm 6111 Mua NVL, 6112 Mua hàng hóa), TK 151, TK 152. Không theo dõi xuất nhập thường xuyên trên TK 152 mà đầu kỳ kết chuyển tồn đầu kỳ vào TK 611, trong kỳ phản ánh hàng mua vào TK 611, cuối kỳ căn cứ kết quả kiểm kê xác định giá trị tồn cuối kỳ kết chuyển về TK 152 và xác định giá trị xuất dùng theo công thức cân đối.
Phần 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Thương mại và Vật tư Vinh Lập
Tổng quan về đơn vị: Công ty TNHH Thương mại và Vật tư Vinh Lập có trụ sở tại Kênh Giang, Thủy Nguyên, Hải Phòng; tài khoản ngân hàng số 32110000480106 tại BIDV; mã số thuế 0200915910. Ngành nghề kinh doanh gồm: xây dựng công trình dân dụng, vật liệu xây dựng, xây lắp điện, hệ thống cây xanh, vệ sinh công nghiệp.
Đặc thù sản xuất và bộ máy tổ chức:
- Ngành xây dựng cơ bản có sản phẩm mang tính đơn chiếc, quy mô kết cấu phức tạp, thời gian thi công dài, giá trị lớn, cố định tại nơi sản xuất và thi công ngoài trời chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết. Quy trình sản xuất gồm 3 bước: (1) Lập dự toán, kế hoạch sản xuất, mua sắm NVL, chuẩn bị vốn; (2) Khởi công, thi công theo công đoạn và điểm dừng kỹ thuật, nghiệm thu từng chặng; (3) Hoàn thiện, bàn giao chủ đầu tư.
- Bộ máy quản lý gồm: Giám đốc, Phó Giám đốc, Phòng Kỹ thuật thi công, Phòng Tài chính - Kế toán và các Đội thi công trực tiếp.
- Bộ máy kế toán tổ chức theo mô hình tập trung tại văn phòng công ty, gồm Kế toán trưởng, Kế toán tổng hợp, Kế toán các đội xây dựng và Thủ quỹ. Công ty áp dụng Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC và hình thức sổ kế toán Nhật ký chung.
Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại Vinh Lập:
- Đặc điểm và phân loại vật liệu: Vật liệu cồng kềnh, khối lượng lớn (xi măng trắng, xi măng đen, thép phi 8, 10, 12, gạch lát, gạch đặc, đá, cát, nhựa đường). Công ty phân chia thành NVL chính, NVL phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế và vật liệu khác. Tuy nhiên, công ty chưa lập hệ thống danh điểm vật liệu mà việc phân loại chỉ thể hiện trên sổ chi tiết.
- Tính giá nguyên vật liệu:
- Giá nhập kho: Xác định theo giá mua hóa đơn cộng chi phí thu mua thực tế. Ví dụ thực tế: Theo Hóa đơn GTGT số 015380 ngày 04/12/2009 mua vật tư của Công ty TNHH MTV Huế Tuyến, giá mua hóa đơn là 145.000 đồng, chi phí vận chuyển thanh toán bằng tiền mặt là 100.000 đồng (VAT 5%), giá trị thực tế nhập kho được ghi nhận là 145.000 đồng.
- Giá xuất kho: Áp dụng phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ. Ví dụ thực tế tính giá xi măng PC 30 trong tháng 12/2009: Tồn đầu kỳ 7.000 kg đơn giá 890 đ/kg; nhập trong kỳ từ Công ty TNHH Trung Hạnh gồm 3 đợt (đợt 1: 10.000 kg đơn giá 890 đ/kg; đợt 2: 10.000 kg đơn giá 895 đ/kg; đợt 3: 10.000 kg đơn giá 900 đ/kg; đều chịu thuế GTGT 10%).
- Thủ tục nhập - xuất kho:
- Nhập kho: Kế toán căn cứ hồ sơ dự toán công trình và sổ chi tiết vật tư lập dự trù trình Giám đốc duyệt. Khi hàng về, Ban kiểm nghiệm kiểm tra quy cách, chất lượng lập Biên bản kiểm nghiệm; Phòng kế toán kiểm tra hóa đơn lập Phiếu nhập kho (2 liên: 1 liên lưu cuống, 1 liên giao thủ kho ghi thẻ kho rồi chuyển kế toán ghi sổ).
- Xuất kho: Căn cứ lệnh sản xuất của Giám đốc và định mức dự toán của Phòng Kỹ thuật, Phòng Kế toán lập Phiếu xuất kho (3 liên: 1 liên thủ kho giữ vào thẻ kho, 1 liên giao cán bộ kỹ thuật công trường, 1 liên kế toán giữ ghi sổ). Do áp dụng phương pháp bình quân cả kỳ, cột đơn giá và thành tiền trên phiếu xuất kho được để trống, kế toán chỉ tính toán và ghi bổ sung vào cuối tháng.
- Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu: Công ty áp dụng phương pháp Thẻ song song. Các nghiệp vụ minh họa trong tháng 12/2009 gồm:
- Nghiệp vụ nhập: Ngày 04/12/2009 mua thép cuộn của Công ty TNHH Trung Hạnh, tổng thanh toán 155.000.000 đồng (VAT 10%, chưa trả tiền), căn cứ Hóa đơn GTGT số 16678 và Biên bản kiểm nghiệm, kế toán lập Phiếu nhập kho số 2.3, ghi Sổ chi tiết NVL biểu 2.6 và thủ kho ghi Thẻ kho biểu 2.8.
- Nghiệp vụ xuất: Ngày 05/12/2009 xuất kho 5.000 kg thép cuộn cho công trình theo Lệnh xuất kho số 2.4, lập Phiếu xuất kho số 2.5, ghi Thẻ kho biểu 2.8 và ghi Sổ chi tiết NVL biểu 2.6.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính và tổng hợp số liệu
Khóa luận đã mô tả và tổng hợp chi tiết các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu trong lý luận, đồng thời ghi nhận thực tế áp dụng tại doanh nghiệp:
| Phương pháp hạch toán chi tiết |
Ghi chép tại kho (Thủ kho) |
Ghi chép tại Phòng Kế toán |
Ưu điểm |
Nhược điểm |
Phạm vi áp dụng phù hợp |
| Ghi thẻ song song (Đang áp dụng tại Vinh Lập) |
Ghi hàng ngày trên Thẻ kho về mặt số lượng |
Mở Sổ (thẻ) chi tiết vật liệu theo dõi cả số lượng và giá trị; cuối tháng đối chiếu Thẻ kho |
Ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra, đối chiếu số liệu |
Trùng lặp chỉ tiêu số lượng giữa kho và kế toán; đối chiếu dồn vào cuối tháng |
Doanh nghiệp ít chủng loại vật tư, nghiệp vụ nhập xuất ít, không thường xuyên |
| Sổ đối chiếu luân chuyển |
Ghi Thẻ kho về mặt số lượng |
Lập Bảng kê nhập, Bảng kê xuất; chỉ ghi vào Sổ đối chiếu luân chuyển 1 lần vào cuối tháng |
Giảm bớt khối lượng ghi chép hàng ngày cho kế toán |
Vẫn trùng lặp về chỉ tiêu hiện vật; kiểm tra tiến hành cuối tháng nên hạn chế tính kịp thời |
Doanh nghiệp không có nhiều nghiệp vụ nhập xuất, không bố trí riêng nhân viên kế toán vật liệu |
| Sổ số dư |
Ghi Thẻ kho; cuối tháng ghi số lượng tồn kho vào Sổ số dư |
Lập Bảng lũy kế nhập, xuất; áp giá hạch toán vào số lượng tồn trên Sổ số dư để đối chiếu giá trị |
Tránh ghi chép trùng lặp; giảm khối lượng ghi chép; công việc dàn đều trong tháng |
Kế toán không theo dõi mặt hiện vật nên muốn tra cứu số lượng phải xem sổ thủ kho; khó phát hiện sai sót cục bộ |
Doanh nghiệp sản xuất lớn, nhiều chủng loại vật tư, nhập xuất liên tục, đã có danh điểm vật tư |
Đối với số liệu thực tế tại Công ty TNHH Thương mại và Vật tư Vinh Lập trong tháng 12/2009:
- Nghiệp vụ mua nguyên vật liệu ngày 04/12/2009: Mua thép cuộn từ Công ty TNHH Trung Hạnh theo Hóa đơn GTGT số 16678 với tổng giá thanh toán 155.000.000 đồng (chưa thanh toán, thuế suất VAT 10%).
- Nghiệp vụ xuất dùng ngày 05/12/2009: Xuất kho 5.000 kg thép cuộn phục vụ thi công xây dựng công trình theo Phiếu xuất kho số 2.5 (cột đơn giá và thành tiền để trống đến cuối tháng).
- Số liệu tính giá bình quân xi măng PC 30: Tồn đầu kỳ 7.000 kg (đơn giá 890 đ/kg); các lô nhập trong kỳ gồm 30.000 kg chia làm 3 đợt mua của Công ty TNHH Trung Hạnh (10.000 kg đơn giá 890 đ/kg; 10.000 kg đơn giá 895 đ/kg; 10.000 kg đơn giá 900 đ/kg).
Đánh giá công tác tổ chức kế toán và điểm nhận diện từ thực tế
Do văn bản cung cấp dừng lại ở trang 50 (cuối Phần 2, kết thúc phần mô tả nghiệp vụ xuất kho thép cuộn) và chưa có Phần 3 về chương giải pháp, các nhận định dưới đây được rút ra trực tiếp từ các phân tích thực trạng của tác giả trong văn bản:
- Về chứng từ và quy trình kiểm soát: Công ty thực hiện nghiêm ngặt quy trình kiểm tra chất lượng vật tư thông qua Ban kiểm nghiệm và Biên bản kiểm nghiệm trước khi nhập kho. Việc xuất vật tư bám sát định mức kinh tế kỹ thuật và dự toán công trình đã được Giám đốc phê duyệt.
- Về hạn chế nội tại:
- Công ty chưa xây dựng hệ thống danh điểm vật tư thống nhất bằng mã số, việc theo dõi chỉ dựa trên tên gọi trong sổ chi tiết, gây bất tiện khi theo dõi các loại vật tư xây dựng đa dạng về quy cách (như thép các loại phi 8, 10, 12, xi măng, gạch).
- Việc áp dụng phương pháp tính giá bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ kết hợp với phương pháp Thẻ song song khiến cột đơn giá và số tiền trên các phiếu xuất kho hàng ngày bị bỏ trống. Khối lượng công việc tính giá và ghi sổ dồn toàn bộ vào thời điểm cuối tháng, làm chậm trễ việc cung cấp thông tin chi phí nguyên vật liệu phục vụ nghiệm thu các hạng mục công trình hoàn thành trong kỳ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của tài liệu nghiên cứu: Văn bản khóa luận cung cấp chỉ bao gồm Phần 1 (Lý luận chung) và Phần 2 (Thực trạng tại doanh nghiệp đến trang 50), thiếu phần đánh giá tổng thể kết quả kinh doanh và Phần 3 (Các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu). Do đó, các giải pháp cụ thể chưa được tác giả trình bày trọn vẹn trong phần văn bản này.
- Hạn chế trong thực tế hạch toán tại doanh nghiệp:
- Công tác quản lý vật tư chưa được mã hóa danh điểm; thủ kho và kế toán vẫn đối chiếu thủ công trên giấy tờ.
- Phương pháp Thẻ song song gây trùng lặp việc ghi chép chỉ tiêu số lượng ở cả kho và phòng kế toán, trong khi phương pháp bình quân cả kỳ làm giảm tính thời sự của số liệu kế toán.
- Hướng mở rộng nghiên cứu:
- Xây dựng bảng danh điểm nguyên vật liệu chuẩn hóa bằng mã số phân cấp theo nhóm, loại và quy cách kỹ thuật nhằm phục vụ công tác tin học hóa kế toán.
- Nghiên cứu ứng dụng phần mềm kế toán để chuyển đổi sang phương pháp tính giá bình quân liên hoàn (sau mỗi lần nhập), giúp xác định ngay giá trị vật tư xuất kho cho từng công trình tại thời điểm phát sinh.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang mối liên hệ giữa kế toán nguyên vật liệu với công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp (TK 621, TK 154) theo từng hạng mục công trình.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán và Quản trị kinh doanh: Cung cấp mẫu nghiên cứu điển hình về đề tài kế toán nguyên vật liệu; cách thức triển khai đề tài từ khung lý thuyết (chuẩn mực, chế độ) sang khảo sát thực tế tại một doanh nghiệp cụ thể.
- Người nghiên cứu kế toán trong ngành xây dựng cơ bản: Tài liệu phản ánh rõ nét đặc trưng luân chuyển vật tư phục vụ thi công công trình dân dụng, quy trình phối hợp giữa kỹ thuật thi công, định mức dự toán và kế toán tài chính.
- Các phần nội dung đáng tham khảo chuyên sâu:
- Mục hướng dẫn xử lý các trường hợp đặc thù trong kế toán mua nguyên vật liệu tại Phần 1 (hàng thừa, hàng thiếu, hàng về trước hóa đơn về sau với 3 cách điều chỉnh chi tiết).
- Quy trình lập và luân chuyển chứng từ nhập kho, xuất kho thể hiện qua Sơ đồ 11 và Sơ đồ 12.
- Bộ mẫu chứng từ và tài khoản áp dụng theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC gắn với các ví dụ thực tế tháng 12/2009.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nghiên cứu công tác kế toán tại đơn vị nào và thuộc lĩnh vực kinh doanh gì?
Khóa luận nghiên cứu tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Vật tư Vinh Lập, địa chỉ tại xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực: xây dựng công trình dân dụng, kinh doanh vật liệu xây dựng, xây lắp điện, hệ thống cây xanh và vệ sinh công nghiệp.
2. Công ty Vinh Lập áp dụng phương pháp kế toán chi tiết và phương pháp tính giá xuất kho nguyên vật liệu nào?
Công ty áp dụng phương pháp ghi Thẻ song song cho công tác kế toán chi tiết nguyên vật liệu (thủ kho theo dõi số lượng trên Thẻ kho, kế toán mở Sổ chi tiết theo dõi cả số lượng và giá trị). Đối với tính giá xuất kho, công ty áp dụng phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ.
3. Theo lý luận ở Phần 1, khi vật liệu mua ngoài đã nhập kho nhưng hóa đơn chưa về vào cuối tháng, kế toán xử lý như thế nào?
Cuối tháng, nếu hóa đơn chưa về, kế toán lưu phiếu nhập vào tệp "Hàng chưa có hóa đơn" và ghi sổ theo giá tạm tính: Nợ TK 152 / Có TK 331. Sang tháng sau khi hóa đơn về, kế toán điều chỉnh theo 1 trong 3 cách: (1) Dùng bút toán đỏ ghi âm để xóa giá tạm tính rồi ghi bút toán thường theo hóa đơn thực tế; (2) Nếu giá hóa đơn lớn hơn giá tạm tính thì ghi bổ sung phần chênh lệch thiếu; (3) Nếu giá hóa đơn nhỏ hơn giá tạm tính thì ghi âm phần chênh lệch thừa.
4. Điểm tồn tại trong công tác theo dõi danh mục vật liệu tại Công ty Vinh Lập được chỉ ra là gì?
Mặc dù nguyên vật liệu của công ty rất phong phú, đa dạng và cồng kềnh (nhiều chủng loại xi măng, sắt thép các kích cỡ phi 8, 10, 12, gạch lát, đá, cát), công ty vẫn chưa lập bảng danh điểm vật liệu chính thức. Việc phân loại vật liệu mới chỉ được thực hiện trên sổ chi tiết nguyên vật liệu, chưa có hệ thống mã hóa thống nhất giữa kho, phòng kỹ thuật và phòng kế toán.
5. Vì sao trên Phiếu xuất kho của Công ty Vinh Lập khi phát sinh nghiệp vụ lại để trống cột đơn giá và thành tiền?
Do công ty áp dụng phương pháp tính giá xuất kho theo đơn giá bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ. Phương pháp này chỉ có thể xác định được đơn giá sau khi kết thúc tháng và tổng hợp được toàn bộ số lượng, giá trị nhập kho trong cả kỳ. Vì vậy, tại thời điểm xuất dùng trong tháng, kế toán chỉ ghi nhận số lượng thực xuất, còn cột đơn giá và thành tiền sẽ được tính toán và bổ sung vào cuối tháng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lương Thị Hồng Nhung đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp theo Chuẩn mực số 02 và Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC. Phần khảo sát thực tiễn tại Công ty TNHH Thương mại và Vật tư Vinh Lập phản ánh chân thực quy trình hạch toán ban đầu, việc luân chuyển chứng từ nhập xuất và ứng dụng phương pháp Thẻ song song kết hợp phương pháp tính giá bình quân gia quyền trong một doanh nghiệp xây lắp. Văn bản thể hiện rõ nét mối liên hệ giữa các bước dự toán kỹ thuật công trình với công tác kiểm soát chứng từ kế toán vật tư. Đây là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị cho sinh viên và người làm công tác kế toán trong việc tiếp cận các nghiệp vụ quản lý vật tư ngành xây dựng cơ bản.