Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật "Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam" của tác giả Thạch Thị Chi Na (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2021) được thực hiện trong bối cảnh công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986). Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường làm nảy sinh nhiều tác động tiêu cực, biểu hiện qua sự gia tăng cả về số lượng, tính chất và mức độ nguy hiểm của tình hình tội phạm. Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, việc quy định và áp dụng chính xác các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) là công cụ pháp lý bảo đảm sự phân hóa TNHS, cá thể hóa hình phạt, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan sai người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.
Về mặt lý luận, khoa học luật hình sự Việt Nam thời điểm tác giả nghiên cứu vẫn tồn tại nhiều quan điểm tranh luận, chưa đạt được sự đồng thuận tuyệt đối về khái niệm, phân loại và cơ chế vận hành của các tình tiết tăng nặng TNHS. Về mặt thực tiễn, công tác áp dụng các tình tiết này tại các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương còn bộc lộ một số hạn chế, lúng túng, xuất phát từ sự chậm trễ trong việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
Khóa luận xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tình tiết tăng nặng TNHS trong luật hình sự Việt Nam, bao gồm khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò trong việc quyết định hình phạt.
- Khảo cứu quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử về tình tiết tăng nặng TNHS; phân tích nội dung pháp lý của Điều 52 BLHS năm 2015 và đánh giá thực tiễn áp dụng tại một số địa phương.
- Đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS trong thực tiễn xét xử vụ án hình sự.
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về các tình tiết tăng nặng TNHS dưới các góc độ tiếp cận lập pháp và áp dụng pháp luật.
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS trong công tác giải quyết vụ án hình sự tại một số địa phương ở Việt Nam; dữ liệu thực tiễn dựa trên nghiên cứu xác suất 100 vụ án hình sự và số liệu thống kê tội phạm người chưa thành niên năm 2010.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng hệ thống các khái niệm pháp lý, quan điểm lý luận học thuật và các văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ:
- Khung lý thuyết và quan điểm học thuật: Tác giả đối chiếu các định nghĩa khoa học về tình tiết tăng nặng TNHS của các nhà luật học Việt Nam như Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (1999), Kiều Đình Thụ (1998), Đinh Văn Quế (1999, 2000), Dương Tuyết Miên (2003), Trần Văn Sơn (1996), Giáo trình Luật hình sự của Trường Đại học Cảnh sát (1995); đồng thời tham khảo quan điểm lý luận về dấu hiệu tái phạm của nhà tội phạm học Michael D. Maltz.
- Hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở nghiên cứu:
- Pháp luật thời kỳ phong kiến: Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) và Hoàng Việt luật lệ.
- Giai đoạn 1945 - 1985: Điều 19 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng (30/7/1967), Điều 22 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và tài sản công dân (20/10/1970), Công văn số 38/NCPL ngày 16/01/1976 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) kèm Bản tổng kết thực tiễn vận dụng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ.
- Các bộ luật hình sự: BLHS năm 1985 (Điều 39 và các luật sửa đổi, bổ sung năm 1989, 1991, 1992, 1997); BLHS năm 1999 (Điều 48 và Luật sửa đổi năm 2009); BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017: Điều 52, Điều 53, Điều 17, các điều từ Điều 69 đến Điều 73, Điều 107, Điều 149...).
- Các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng: Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 16/11/1988 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP; Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP; Thông tư liên tịch số 02/2001/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP.
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng để làm rõ các quy định pháp luật thực định hiện hành, khái quát hóa các luận điểm khoa học, chỉ ra các điểm tiến bộ và thiếu sót của hệ thống điều luật.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định về tình tiết tăng nặng TNHS qua các thời kỳ lập pháp (trước 1985, 1985, 1999 và 2015); so sánh quy định pháp luật với thực tiễn xét xử nhằm xác định tính khả thi.
- Phương pháp lịch sử: Phân tích sự tiến hóa của các điều luật gắn liền với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cách mạng.
- Phương pháp thống kê: Khảo sát, xử lý các bảng số liệu thực tiễn về tình hình phạm tội và tần suất áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS trong các bản án tại địa phương.
- Phương pháp duy vật biện chứng và logic pháp lý: Phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành tội phạm với việc cá thể hóa hình phạt.
Nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ khóa luận gồm: Báo cáo tổng kết của TAND một số địa phương (Bảng thống kê tỷ lệ người chưa thành niên phạm tội năm 2010) và kết quả khảo cứu xác suất 100 bản án hình sự sơ thẩm tại một số Tòa án địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Những vấn đề chung về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam
Chương I tập trung xây dựng nền tảng lý luận toàn diện về chế định tình tiết tăng nặng TNHS trong luật hình sự Việt Nam.
Tác giả phân tích các quan điểm học thuật hiện hành và tổng hợp đưa ra định nghĩa: Tình tiết tăng nặng TNHS là tình tiết được quy định trong Bộ luật Hình sự với tính chất là tình tiết tăng nặng chung, là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm.
Khóa luận khái quát 5 đặc điểm pháp lý cơ bản của tình tiết tăng nặng TNHS:
- Là căn cứ pháp lý bắt buộc để Tòa án quyết định hình phạt, được quy định cụ thể tại Điều 52 BLHS năm 2015;
- Làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo chiều hướng tăng lên nhưng không làm thay đổi tính chất nguy hiểm cho xã hội (nếu thay đổi tính chất thì chuyển hóa thành tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt);
- Mang tính ổn định về số lượng và nội dung, do nhà làm luật quy định theo danh mục đóng (Tòa án không được tự ý áp dụng thêm tình tiết ngoài luật định, khác biệt hoàn toàn với tính chất mở của tình tiết giảm nhẹ TNHS tại Điều 51);
- Tuân thủ nguyên tắc không áp dụng trùng lặp: theo khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015, tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì tuyệt đối không được coi là tình tiết tăng nặng TNHS chung trong cùng một vụ án; một tình tiết chỉ áp dụng một lần;
- Mang tính cá thể hóa cao: Tình tiết tăng nặng thuộc về nhân thân của đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với riêng cá nhân đồng phạm đó, không áp dụng cho toàn bộ vụ án.
Về phân loại, khóa luận nghiên cứu hai tiêu chí phân loại cơ bản:
| Tiêu chí phân loại |
Các nhóm tình tiết |
Đặc điểm và ý nghĩa pháp lý |
| Căn cứ vào ý nghĩa pháp lý |
- Tình tiết tăng nặng định tội - Tình tiết tăng nặng định khung - Tình tiết tăng nặng chung |
- Định tội: Làm thay đổi tính chất nguy hiểm của hành vi, chuyển sang một tội danh khác nặng hơn. - Định khung: Làm tăng mức độ nguy hiểm đáng kể nhưng trong cùng một tội danh, chuyển sang khung hình phạt cao hơn. - Tăng nặng chung: Làm tăng mức độ nguy hiểm trong giới hạn một khung hình phạt xác định. - Có thứ tự ưu tiên áp dụng loại trừ nhau: Định tội $\rightarrow$ Định khung $\rightarrow$ Tăng nặng chung. |
| Căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm |
- Thuộc mặt khách quan - Thuộc mặt chủ quan - Thuộc chủ thể - Thuộc khách thể |
- Mặt khách quan: Phương thức, thủ đoạn tàn ác, xảo quyệt, gây nguy hại cho nhiều người, lợi dụng thiên tai, dịch bệnh... - Mặt chủ quan: Mức độ lỗi, động cơ đê hèn, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. - Chủ thể: Đặc điểm nhân thân, tính chất côn đồ, phạm tội từ 02 lần trở lên, tái phạm, tái phạm nguy hiểm. - Khách thể: Đối tượng tác động cần bảo vệ đặc biệt (trẻ em, người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già, người khuyết tật...). |
Về vai trò, các tình tiết tăng nặng TNHS đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ Thẩm phán lượng hình công minh, hiện thực hóa các nguyên tắc phân hóa TNHS, cá thể hóa hình phạt và bảo đảm tính nghiêm minh kết hợp với tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương II: Vị trí pháp lý, nội dung những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng
Chương II đi sâu phân tích tiến trình lập pháp hình sự qua các thời kỳ và mổ xẻ nội dung các tình tiết tăng nặng chung theo quy định của BLHS năm 2015:
- Giai đoạn trước năm 1985: Thời kỳ phong kiến (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ) đã bước đầu ghi nhận các tình tiết tăng nặng gắn với quan hệ gia đình, đẳng cấp xã hội. Giai đoạn 1945 - 1985, các quy định nằm rải rác tại các văn bản đơn lẻ (Pháp lệnh năm 1967, Pháp lệnh năm 1970). Văn bản hướng dẫn của TANDTC (Công văn 38/NCPL năm 1976) đã phân chia tình tiết tăng nặng thành 3 nhóm: phương diện khách quan, phương diện chủ quan và nhân thân người phạm tội, gắn chặt với bối cảnh kháng chiến và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa.
- BLHS năm 1985: Đánh dấu mốc pháp điển hóa toàn diện đầu tiên. Danh mục tình tiết tăng nặng được quy định tập trung tại Điều 39 gồm 10 nhóm tình tiết, đặt ra nguyên tắc loại trừ nếu đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung. Các lần sửa đổi (1989, 1991, 1992, 1997) đã bổ sung thêm tình tiết "lợi dụng chức vụ cao để phạm tội" (năm 1997) và phân hóa các tội danh xâm phạm tình dục trẻ em.
- BLHS năm 1999: Quy định 14 tình tiết tăng nặng chung tại Điều 48. Điểm đổi mới căn bản là chuyển tình tiết "xâm phạm tài sản của Nhà nước" từ tình tiết định tội xuống tình tiết tăng nặng chung nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế theo Hiến pháp năm 1992. Nhiều văn bản hướng dẫn dưới luật được ban hành để lượng hóa hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (Thông tư 02/2001, Nghị quyết 02/2003).
- BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Quy định danh mục tình tiết tăng nặng tại Điều 52 gồm 15 điểm (từ điểm a đến điểm p khoản 1). So với BLHS năm 1999, luật mới bãi bỏ 02 tình tiết tăng nặng: "xâm phạm tài sản của Nhà nước" và "phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng" (chuyển hóa thành các yếu tố định lượng cụ thể trong từng cấu thành). Tác giả phân tích cụ thể các tình tiết:
- Phạm tội có tổ chức (điểm a): Căn cứ khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015, là hình thức đồng phạm có sự "câu kết chặt chẽ". Hiện việc áp dụng vẫn phải viện dẫn tinh thần Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 16/11/1988 do chưa có văn bản mới.
- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp (điểm b): Viện dẫn Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, đòi hỏi 2 điều kiện: phạm tội từ 5 lần trở lên về cùng một tội phạm và lấy nguồn lợi bất chính làm nghề nghiệp, nguồn sống chính.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội (điểm c): Thay thế cho thuật ngữ "chức vụ cao" của BLHS năm 1985, phản ánh tính nguy hiểm xâm hại hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
- Phạm tội có tính chất côn đồ (điểm d): Căn cứ vào hành vi thể hiện sự hung hãn, coi thường kỷ cương, coi thường tính mạng người khác vì nguyên cớ nhỏ nhặt, không đánh giá thuần túy dựa trên nhân thân người phạm tội.
- Phạm tội vì động cơ đê hèn (điểm đ) và Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng (điểm e): Phản ánh mức độ lỗi gia tăng, ý chí chống đối pháp luật cao độ, quyết tâm vượt qua mọi trở ngại khách quan để hoàn thành tội phạm.
- Phạm tội 02 lần trở lên (điểm g): Thay thế thuật ngữ "phạm tội nhiều lần" trong BLHS năm 1999, làm rõ tính chất thực hiện hành vi cấu thành cùng một tội danh từ hai lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu TNHS.
- Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (điểm h): Được tách biệt rõ ràng theo quy định tại Điều 53 BLHS năm 2015. Khóa luận phân tích 3 điều kiện cấu thành: đã bị kết án (phải chứa đựng hình phạt cụ thể), chưa được xóa án tích (đối chiếu Điều 69 đến Điều 73, Điều 107) và tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
Về thực tiễn áp dụng, khóa luận phản ánh thực trạng thông qua hai bảng thống kê:
- Bảng 2.1: Thống kê tỷ lệ người chưa thành niên phạm tội năm 2010 tại một số Tòa án địa phương trên cơ sở báo cáo tổng kết.
- Bảng 2.2: Thống kê tỷ lệ các vụ án có áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS trên cơ sở nghiên cứu xác suất 100 vụ án tại một số địa phương.
Đánh giá chung cho thấy, các Tòa án địa phương đã cơ bản tuân thủ các nguyên tắc áp dụng tình tiết tăng nặng theo luật định. Tuy nhiên, tình trạng áp dụng còn thiếu thống nhất do các nguyên nhân: thiếu các văn bản giải thích pháp luật cập nhật của TANDTC; việc đánh giá các khái niệm mang tính định tính ("côn đồ", "câu kết chặt chẽ", "động cơ đê hèn") phụ thuộc nhiều vào nhận thức chủ quan của Hội đồng xét xử; đôi khi vẫn xảy ra hiện tượng áp dụng trùng lặp giữa tình tiết định khung và tình tiết tăng nặng chung.
Chương III: Kiến nghị hoàn thiện các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn
Chương III đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực tiễn:
- Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật: Việc chuyển đổi từ BLHS năm 1999 sang BLHS năm 2015 đòi hỏi hệ thống hướng dẫn thi hành phải đồng bộ, loại bỏ triệt để các khoảng trống pháp lý khi các nghị quyết của TANDTC từ năm 1988, 2003, 2006 đã dần bộc lộ bất cập so với quy định mới.
- Kiến nghị cụ thể hoàn thiện văn bản quy phạm:
- Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết áp dụng Điều 52 BLHS năm 2015, định lượng hóa và đưa ra tiêu chí chuẩn xác để phân biệt dấu hiệu "câu kết chặt chẽ" (phạm tội có tổ chức) với đồng phạm giản đơn;
- Hướng dẫn cụ thể các tiêu chí xác định "tính chất côn đồ" và "động cơ đê hèn", giảm thiểu sự suy diễn cảm tính từ phía cơ quan tố tụng;
- Hoàn thiện các quy định về xác định tiền án, thời điểm đương nhiên được xóa án tích nhằm áp dụng chính xác tình tiết "tái phạm", "tái phạm nguy hiểm" theo Điều 53.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thực tiễn:
- Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên trong việc xác định đúng bản chất hành vi phạm tội;
- Đẩy mạnh công tác tổng kết xét xử thường niên của TANDTC, kịp thời phát hiện sai sót về áp dụng trùng lặp tình tiết định khung với tình tiết tăng nặng chung để rút kinh nghiệm;
- Mở rộng việc phát triển và công bố các án lệ liên quan đến việc quyết định hình phạt và áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu: Khóa luận đã hệ thống hóa quá trình phát triển của chế định tình tiết tăng nặng TNHS trong lịch sử lập pháp Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến BLHS năm 2015; làm sáng tỏ các mối quan hệ pháp lý phức tạp giữa tình tiết tăng nặng định tội, tình tiết tăng nặng định khung và tình tiết tăng nặng chung; khảo sát việc áp dụng thực tế qua việc phân tích dữ liệu xác suất 100 bản án hình sự và số liệu thống kê tội phạm người chưa thành niên năm 2010 tại một số địa phương.
- Giải pháp và kiến nghị đề xuất: Tác giả đề xuất xây dựng nghị quyết hướng dẫn thi hành thống nhất cho Điều 52 BLHS năm 2015; chuẩn hóa tiêu chí nhận diện các dấu hiệu định tính ("câu kết chặt chẽ", "tính chất côn đồ", "động cơ đê hèn"); kiến nghị các biện pháp nghiệp vụ xét xử nhằm chấm dứt tình trạng áp dụng trùng lặp tình tiết tăng nặng định khung với tình tiết tăng nặng chung.
- Đóng góp của đề tài: Khóa luận tiếp cận toàn diện vấn đề tình tiết tăng nặng TNHS ở cả nghĩa rộng (bao hàm cả định tội, định khung) và nghĩa hẹp (các tình tiết chung khi quyết định hình phạt), trong khi các công trình đi trước chủ yếu phân tích ở nghĩa hẹp hoặc đi sâu vào một tình tiết đơn lẻ. Công trình chỉ rõ những xung đột, bất cập khi áp dụng các nghị quyết hướng dẫn cũ (ban hành từ năm 1988, 2003, 2006) cho các điều khoản của BLHS năm 2015.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn ở một số Tòa án địa phương; cỡ mẫu khảo sát xác suất 100 vụ án chưa bao quát toàn bộ các vùng miền trên cả nước; số liệu thống kê người chưa thành niên phạm tội dừng lại ở mốc năm 2010; chưa tiến hành khảo cứu so sánh luật hình sự quốc tế một cách chuyên sâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận mở ra định hướng khảo cứu thực tiễn áp dụng Điều 52 BLHS năm 2015 trên diện rộng sau giai đoạn sửa đổi năm 2017 với quy mô mẫu lớn hơn; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế định lượng các tình tiết tăng nặng TNHS đối với các loại tội phạm phi truyền thống, tội phạm kinh tế hoặc tội phạm công nghệ cao.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật; cán bộ nghiên cứu pháp luật hình sự; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Luật sư tham gia tố tụng vụ án hình sự.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Mục 1.2 Chương I: Phân tích tiêu chí phân loại tình tiết tăng nặng theo ý nghĩa pháp lý và theo các yếu tố cấu thành tội phạm, giúp người nghiên cứu nắm vững quy tắc loại trừ trong kỹ năng định tội danh và quyết định hình phạt.
- Mục 2.1 Chương II: Bức tranh so sánh lập pháp qua 4 giai đoạn lịch sử (trước 1985, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015) và phân tích chuyên sâu các tình tiết tại Điều 52 BLHS năm 2015 gắn với các nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
Câu hỏi thường gặp
1. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bãi bỏ những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung nào so với Bộ luật Hình sự năm 1999?
BLHS năm 2015 đã bãi bỏ 02 tình tiết tăng nặng TNHS chung từng được quy định tại điểm i và điểm k khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999: tình tiết "xâm phạm tài sản của Nhà nước" (nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng tài sản của các thành phần kinh tế) và tình tiết "phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng" (do các cấp độ hậu quả này đã được chuyển hóa thành các tình tiết định khung hình phạt cụ thể trong từng tội danh).
2. Điểm khác biệt căn bản giữa tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là gì?
Tình tiết tăng nặng TNHS mang tính ổn định tuyệt đối về số lượng và nội dung, được quy định theo danh mục đóng tại khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015; Tòa án không được tùy tiện áp dụng bất kỳ tình tiết nào ngoài luật định. Ngược lại, tình tiết giảm nhẹ TNHS có tính chất mở; ngoài các tình tiết được liệt kê tại khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 cho phép Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết khác có lợi cho người phạm tội để giảm nhẹ hình phạt. Đồng thời, khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án có thể xử phạt dưới mức tối thiểu của khung, trong khi có nhiều tình tiết tăng nặng thì hình phạt vẫn không được vượt quá mức tối đa của khung hình phạt đang áp dụng.
3. Điều kiện để áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là gì?
Căn cứ Mục 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, một hành vi chỉ được coi là có tính chất chuyên nghiệp khi thỏa mãn đồng thời hai điều kiện bắt buộc:
- Đã cố ý phạm tội từ 05 lần trở lên về cùng một tội phạm (không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu hoặc chưa được xóa án tích);
- Người phạm tội lấy việc thực hiện tội phạm làm nghề nghiệp chính và lấy kết quả phạm tội làm nguồn sống chính.
4. Quy định về tình tiết "tái phạm" tại BLHS năm 2015 có điểm gì tiến bộ so với BLHS năm 1985?
Theo khoản 1 Điều 40 BLHS năm 1985, tái phạm bị giới hạn trong trường hợp người phạm tội "đã bị phạt tù". BLHS năm 2015 (khoản 1 Điều 53) mở rộng điều kiện thành trường hợp "đã bị kết án, chưa được xóa án tích". Quy định mới khắc phục triệt để bất cập của BLHS năm 1985, cho phép xác định dấu hiệu tái phạm đối với cả những người từng bị kết án nhưng được áp dụng án treo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc các hình phạt khác không phải là hình phạt tù.
5. Nguyên tắc loại trừ trong việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định như thế nào?
Theo khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015, các tình tiết đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc dấu hiệu định khung hình phạt thì tuyệt đối không được coi là tình tiết tăng nặng TNHS chung. Thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các loại tình tiết tăng nặng mang tính loại trừ nhau lần lượt là: Tình tiết tăng nặng định tội $\rightarrow$ Tình tiết tăng nặng định khung $\rightarrow$ Tình tiết tăng nặng chung. Trong một vụ án, một tình tiết chỉ được xem xét áp dụng một lần duy nhất.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Thạch Thị Chi Na là công trình nghiên cứu hệ thống và nghiêm túc về chế định tình tiết tăng nặng TNHS trong luật hình sự Việt Nam. Tác giả đã kết hợp phân tích lịch sử lập pháp qua các bản BLHS năm 1985, 1999 và 2015 với dữ liệu xét xử thực tiễn từ 100 bản án khảo sát xác suất. Các kết quả nghiên cứu và đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ hữu ích cho việc hoàn thiện các văn bản giải thích pháp luật của TANDTC và nâng cao chất lượng quyết định hình phạt của các cơ quan tư pháp hình sự.