Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp và nội dung nghiên cứu Chương 4: Các kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 123doc Trang 6 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Lý thuyết về quản trị công ty 2.1 Lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện xuất hiện từ những năm 1970 với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới nhiều loại hình công ty xuất hiện. Các lý thuyết nền tảng về quyền sở hữu công ty, quan hệ giữa người chủ sở hữu và người quản lý để thực hiện các quyết định của công ty bắt đầu được chú trọng. Lý thuyết đại diện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ sở hữu vốn của công ty và một bên khác là người quản lý- người đại diện thực hiện các quyết định của công ty. Người đại diện sẽ thay mặt người chủ để ra các quyết định.
Nhưng làm thế nào để người đại diện làm việc vì lợi ích cao nhất cho người chủ khi họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác người chủ là vấn đề mà lý thuyết chi phí đại diện cần giải quyết. Vì vậy, theo lý thuyết này để hạn chế sự bất đồng về lợi ích, người chủ có thể tăng chi phí giám sát, hoặc phải trả thêm những khoản phí để đảm bảo rằng người người đại diện không thực hiện những hành động làm tổn hại đến lợi ích của người chủ. Do đó, chi phí đại diện là tổng hợp của chi phí giám sát quản lý, chi phí ràng buộc với người đại diện, chi phí do mất mát phụ trội. Nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976) tìm thấy rằng tỉ số giá trị thị trường và giá sổ sách sẽ thấp hơn ở những công ty mà khả năng bị các cổ đông lớn thâu tóm, đặc biệt là khi họ nắm giữ cổ phần của các công ty có vốn cổ phần của nhà nước lớn hay những công ty theo cấu trúc gia đình.
Mức độ tập trung của mức sở hữu đem lại lợi ích cho công ty vì những cổ đông lớn trong ban quản trị sẽ hoạt động tốt hơn.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin Thông tin bất cân xứng được hiểu là mức độ thông tin phản ánh không kịp thời và đầy đủ, hoặc không chính xác về thị trường. Thông tin bất cân xứng xảy ra do có nhiều nguồn thông tin khác nhau, thời điểm nhận thông tin khác nhau hoặc do cách tiếp nhận và xử lý thông tin của mỗi đối tượng khác nhau. Người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết bất cân xứng thông tin là George Akerlof (1970). Akerlof cho rằng trên thị trường, do thông tin bất cân xứng nên người bán luôn là phía có đủ thông tin về chất lượng hàng hóa trong khi người mua là phía không có đủ thông tin.
Chính vì thế người bán luôn che giấu thông tin thật về hàng hóa cũ của mình và bán chúng với giá của hàng hóa mới. Người mua không chắc chắn về chất lượng hàng hóa mình sẽ mua nên cũng chọn mua các hàng hóa cũ giá trung bình với lập luận rằng trong trường hợp mình lựa chọn nhầm thì sẽ giảm được thiệt hại. Trên thực tế hàng hóa tốt có giá cao hơn mức trung bình, còn hàng hóa xấu có giá dưới mức trung bình. Vì thế người mua thường mua được hàng xấu và người bán thì không bán được hàng hóa tốt.
Do đó cả người mua và bán đều không có lợi. Theo tác giả để giải quyết vấn đề này cần có sự can thiệp của trung gian đứng ra giới thiệu sản phẩm, quy đĩnh rõ ràng về chất lượng nhằm minh bạch thông tin. Lý thuyết này được gọi là nguyên tắc “lemons”. Với các nước kém phát triển, nguyên tắc này thể hiện khá rõ nét.2 Các kết quả nghiên cứu trước đây 2.1 Nghiên cứu giữa chỉ số quản trị công ty và tính thanh khoản Parasanna và Menon (2011) khi nghiên cứu mối liên hệ giữa quản trị công ty và tính thanh khoản của cổ phiếu các tác giả đã đặt ra ba câu hỏi: Các công ty quản trị tốt hơn có góp phần làm cho hành vi thị trường chứng khoán hiệu quả hơn hay không? Những người sáng lập công ty nắm giữ cổ phiếu nhiều sẽ làm giảm tính thanh khoản hay không? Mức độ tác động của quản trị công ty đại chúng đến tính thanh khoản của cổ phiếu như thế nào? Từ đó các tác giả đưa ra các giả thiết: Các 123doc Trang 8 công ty có kinh nghiệm tốt về quản trị doanh sẽ cải thiện thanh khoản trên thị trường chứng khoán; Những công ty có đầu tư nước ngoài có tính thanh khoản cao hơn; Nhà quản trị nắm giữ cổ phiếu nhiều sẽ giảm tính thanh khoản; Mẫu nghiên cứu gồm 90 công ty trên thị trường chứng khoán Bombay của Ấn Độ trong khoản thời gian 2009-2010.
Kết quả cho thấy những công ty quản trị tốt thì tính thanh khoản của cổ phiếu cao hơn đặc biệt là các công ty có vốn nước ngoài. Nhà quản trị nắm giữ số lượng cổ phiếu nhiều sẽ làm giảm tính thanh khoản. Karmani (2012) nghiên cứu trên 155 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Paris ở Pháp trong năm 2008 và 2009 về tác động của cơ chế quản trị đến tính thanh khoản của cổ phiếu. Tác giả nêu ra các giả thiết ảnh hưởng đến tính thanh khoản: Kích thước của hội đồng quản trị, sự hiện diện của các giám đốc độc lập, các chuyên gia tài chính, độ tuổi của giám đốc, số lượng các cuộc họp của hội đồng quản trị, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán, tỷ lệ giám đốc độc lập về chuyên môn, có ít nhất một công ty kiểm toán trong một mạng lưới kiểm toán quốc tế "Big 4".
Kết quả nghiên cứu cho thấy kích thước của Hội đồng quản trị, tính độc lập và các chuyên gia tài chính của các quản trị viên, và số lượng các cuộc họp hội đồng quản trị có ảnh hưởng lớn đến tính thanh khoản của cổ phiếu. Một hệ thống quản trị công ty hiệu quả làm tăng niềm tin nhà đầu tư trên thị trường. Đây là một đòn bẩy cho việc thiết lập một mối quan hệ tin tưởng giữa các công ty và các nhà đầu tư, thu hút các nhà đầu tư mới, và nâng cao tính thanh khoản cổ phiếu. Ngoài ra sự có mặt của 1 trong 4 công ty kiểm toán quốc tế thuộc mạng lưới "Big 4" có ảnh hưởng tốt đến tính thanh khoản.
Chung, Elder và Kim (2010) nghiên cứu trên sàn giao dịch NYSE/AMEX và NASDAQ của Hoa Kỳ cho thấy các công ty có quản trị công ty tốt thì tính thanh khoản của cổ phiếu cao bởi vì quản trị tốt cải thiện tính minh bạch tài chính và hoạt động, giảm bất đối xứng thông tin giữa những người trong cuộc và chủ sở hữu bên ngoài. Điều này lý giải tại sao những công ty có cơ cấu quản trị kém thì giá trị thị trường thấp hơn, bảo vệ quyền cổ đông thấp, lợi nhuận biên thấp và doanh thu tăng 123doc Trang 9 trưởng chậm. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trong cùng điều kiện kinh doanh, những công ty trong nước có cơ chế quản lý và thông tin công khai minh bạch, bảo vệ quyền lợi cho cổ đông nhỏ, được đánh giá cao hơn nên tính thanh khoản được cải thiện. Tuy nhiên tác giả cũng nói thêm công ty có nên lựa chọn và áp dụng như thế nào vẫn còn tùy thuộc vào các chi phí liên quan khác.
Ví dụ như lựa chọn tiêu chuẩn nhằm giảm bớt sự ảnh hưởng của cổ đông lớn trong việc chi phối công ty để tối đa hóa giá trị cho cá nhân phải cân nhắc đến chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu cùng các chi phí khác có liên quan. Loukil và Yousfi (2010) nghiên cứu trên mẫu gồm 49 công ty giao dịch trên thị trường chứng khoán mới nổi ở Tunisia từ năm 1998 - 2007. Các tác giả phân tích tác động của thông tin bất cân xứng lên thị trường chứng khoán và những ảnh hưởng của nó. Kết quả cho thấy thanh khoản phụ thuộc đáng kể trên các loại hình kiểm soát (quản lý nhà nước, kiểm soát tư nhân và kiểm soát nước ngoài).
Những cổ đông thích tham gia vào các công ty có sự kiểm soát của nhà nước vì tài sản của họ được đảm bảo hơn và nhà nước luôn bảo vệ nhà đầu tư. Các tác giả khẳng định quản trị công ty có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tính thanh khoản của cổ phiếu vì chúng làm giảm sự bất cân xứng thông tin. Thông tin bất cân xứng phụ thuộc vào một số đặc điểm của công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy trung bình, hơn một nửa các giao dịch được thực hiện bởi những thương nhân nắm được tin tức.
Điều này có nghĩa là thị trường chứng khoán Tunisia hiển thị thông tin bất đối xứng nghiêm trọng.2 Các nghiên cứu khác Mối quan hệ giữa quy mô công ty và tính thanh khoản Narayan (Deakin University), Zhang (Durham University), và Zheng (Deakin University) (2010) nghiên cứu dựa vào dữ liệu trên thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thẩm Quyến. Họ đưa ra giả thiết tính thanh khoản thay đổi theo quy mô công ty. Để kiểm tra những giả thuyết này, tác giả sử dụng một bộ dữ liệu hai 123doc Trang 10 năm của thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến bao gồm hơn 34 và 48 triệu giao dịch tương ứng. Họ tìm thấy kết quả phù hợp cho cả hai sàn chứng khoán.
Sự tương đồng trong tính thanh khoản là liên tục không phụ thuộc vào quy mô công ty. Điều này là không phù hợp với các tài liệu đã nghiên cứu trước đó. Ý nghĩa của việc này là cú sốc thanh khoản sẽ ảnh hưởng đến các công ty (không phân biệt quy mô của chúng) như nhau. Khác với Narayan và cộng sự, Chung, Elder và Kim (2010) nghiên cứu dữ liệu tổng hợp trên hai thị trường chứng khoán NYSE/AMEX và NASDAQ của Hoa Kỳ cho kết quả có mối tương quan dương giữa quy mô công ty với tính thanh khoản.
Cùng chung kết quả với Chung và cộng sự, Karmani (2012) nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Pháp cũng cho thấy mối tương quan dương giữa quy mô công ty với tính thanh khoản. Mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và tính thanh khoản Frieder và Martell (2006) đưa ra giả thiết phát hành nợ làm tăng gánh nặng lãi suất và rủi ro của một công ty và do đó làm giảm khả năng thanh khoản.