CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Giới thiệu Chương này tác giả tổng hợp một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến hệ thống KSNB trong lĩnh vực ngân hàng. Đưa ra một số nhận xét về các nghiên cứu, từ đó rút ra những khoảng trống nghiên cứu làm nền tảng cho nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các ngân hàng TMCP trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Karagiorgos & cộng sự (2008): nhóm tác giả thực nghiên cứu nhằm đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các NHTM ở Hy Lạp dựa vào khuôn khổ hệ thống KSNB của báo cáo COSO 1992.
Các biến thành phần trong hệ thống KSNB bao gồm: hoạt động kiểm soát, môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hệ thống thông tin truyền thông và giám sát được phân tích sau đó thiết kế thành một bảng câu hỏi theo thang đo Likert 5 mức độ từ “rất đồng ý” đến “không đồng ý” để đánh giá. Nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên 16 ngân hàng ở Hy Lạp, với tổng số 450 bảng câu hỏi được gửi kết quả thu về có 100 bảng trả lời hoàn chỉnh có thể đưa vào phân tích. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng tất cả các thành phần của hệ thống KSNB đều được đánh giá cao, đồng thời nhóm tác giả đưa ra nhận định hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ quyết định đến sự thành công trong ngành ngân hàng. Cụ thể, kết quả từ thống kê mô tả đã chỉ ra rằng tính trung thực dựa trên các giá trị đạo đức, quy tắc ứng xử và sơ đồ tổ chức là các yếu tố quan trọng của biến môi trường kiểm soát.
Phần lớn các đối tượng khảo sát đều cho rằng hoạt động kiểm soát là các chính sách và thủ tục được sử dụng để mục tiêu quản lý được đảm bảo. Đánh giá rủi ro được xem là thành phần thiết yếu trong quá trình quản lý để xác định và đánh giá các rào cản nhằm đạt được mục tiêu chung. Hệ thống thông tin truyền thông được đáp ứng hiệu quả cho các phòng ban. Giám sát là một thành phần vốn có của ngân hàng và biến đổi linh 9 hoạt khi có những thay đổi.
Nghiên cứu của Amudo & Inanga (2009): mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hệ thống KSNB trong các dự án thuộc khu vực công ở Uganda được tài trợ bởi ngân hàng Phát triển Châu Phi. Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả, với các dữ liệu chính được thu thập bằng cách tiến hành phỏng vấn kết hợp với gửi bảng câu hỏi khảo sát đối với 11 dự án sau đó phân tích dữ liệu và xếp hạng. Nhóm tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất dựa vào khuôn khổ KSNB của COSO và COBIT bao gồm: 1 biến phụ thuộc (tính hữu hiệu của hệ thống KSNB); 6 biến độc lập (Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin truyền thông, giám sát; công nghệ thông tin); 2 biến điều tiết (ủy quyền, mối quan hệ cộng tác). Kết quả nghiên cứu nhóm tác giả đã chỉ ra rằng tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các dự án được các ngân hàng Phát triển Châu Phi tài trợ liên quan đến sự hiện diện và hoạt động của 6 thành phần được xác định trong mô hình.
Nếu thiếu một hoặc một số thành phần của KSNB sẽ dẫn đến việc kết quả của quá trình vận hành hệ thống KSNB không đạt được tính hữu hiệu. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn hạn chế là chưa có sự phân tích định lượng để đưa ra kết luận cụ thể về mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. Đồng thời, nhóm tác giả cũng nêu rõ nghiên cứu chỉ mới thực hiện ở Uganda, kết quả nghiên cứu có thể thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh hoặc đặc điểm của từng quốc gia cụ thể. Nghiên cứu của Ayagre và cộng sự (2014): nghiên cứu hướng đến mục tiêu đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các ngân hàng ở Ghana, bằng việc sử dụng 2 trong 5 thành phần của hệ thống KSNB dựa trên các thuộc tính của báo cáo COSO 1992 là môi trường kiểm soát và hoạt động kiểm soát để đánh giá.
Dữ liệu cho nghiên cứu được thu thập từ bảng câu hỏi khảo sát có sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ “Hoàn toàn không đồng ý” đến “Hoàn toàn đồng ý” được gửi đến các nhà quản lý am hiểu rõ về hệ thống KSNB của ngân hàng. Kết quả từ việc phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS cho thấy hoạt động KSNB của các ngân hàng ở Ghana đạt hữu 10 hiệu, 2 thành phần môi trường kiểm soát và hoạt động kiểm soát được đánh giá cao với điểm trung bình lần lượt là 4,72 và 4,66. Điều này đồng nghĩa với việc sự kiểm soát tốt đối với 2 thành phần trên sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các ngân hàng ở Ghana. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là chỉ xem xét 2 thành phần của hệ thống KSNB, nhóm tác giả cũng đề xuất hướng nghiên cứu đánh giá tính hữu hiệu của hệ hệ thống KSNB liên quan đến 5 thành phần theo báo cáo của COSO cho các nhà nghiên cứu tiếp theo.
Nghiên cứu của Gamage và cộng sự (2014): mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các ngân hàng thương mại Nhà nước ở Sri Lanka. Nghiên cứu được tiến hành xem xét tại 2 ngân hàng thương mại Nhà nước với 64 chi nhánh có quy mô lớn chủ yếu đặt tại 2 trong số 9 tỉnh của Sri Lanka (trong đó 36 chi nhánh ngân hàng thương mại Nhà nước của Ceylon và 28 chi nhánh ngân hàng thương mại Nhà nước Nhân Dân), với cỡ mẫu là 53% trên tổng dân số. Một mô hình nghiên cứu đã được xây dựng dựa trên báo cáo COSO 1992, thang đo tính hữu hiệu của HTKSNB là thang đo bậc 2 với 5 biến độc lập (gồm: (1) môi trường kiểm soát, (2) hoạt động kiểm soát, (3) đánh giá rủi ro, (4) hệ thống thông tin truyền thông, (5) giám sát) và 1 biến phụ thuộc là tính hữu hiệu của hệ thống KSNB được đánh giá thông qua việc ngân hàng sẽ đạt được 3 mục tiêu: (1) báo cáo tài chính tính cậy,(2) hoạt động hiệu quả và (3) tuân thủ các quy tắc, quy định. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nhóm tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu bằng cách phỏng vấn và khảo sát bằng bảng câu hỏi được gửi đến 128 cán bộ quản lý và nhân viên cấp cao của các chi nhánh.
Kết của nghiên cứu của nhóm tác giả đã chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ và thuận chiều giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, nếu từng thành phần trong hệ thống KSNB hoạt động hữu hiệu sẽ đảm cho mục tiêu kiểm soát và hoạt động của ngân hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn giúp cho các nhà quản lý hiểu rõ hơn về những ưu điểm và khuyết điểm đang tồn tại trong ngân hàng của họ, là gợi ý để các nhà quản lý có thể điều chỉnh các hoạt động KSNB thích hợp và hữu hiệu hơn. Nghiên cứu của Kumuthinidevi (2016): nghiên cứu này hướng đến mục tiêu 11 đo lường tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các ngân hàng tư nhân của Trincomalee. Phương pháp trong nghiên cứu này được sử dụng là phương pháp nghiên cứu hỗn hợp bao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng.Nghiên cứu được tiến hành với 130 mẫu khảo sát, đối tượng khảo sát là các nhân viên quản lý, giám đốc điều hành.
Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát theo thang đo Likert 5 điểm. Trong nghiên cứu này, thang đo tính hữu hiệu hệ thống KSNB là thang đo bậc 2 được tác giả xây dựng dựa vào khuôn mẫu của báo cáo Basle 1998 bao gồm 5 biến phụ thuộc là: (1) môi trường kiểm soát, (2) đánh giá rủi ro,(3) hệ thống thông tin và truyền thông, (4) hoạt động kiểm soát,(5) giám sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các ngân hàng tư nhân ở Trincomalee có giá trị trung bình chỉ đạt ở mức 3,05; cả 5 thành phần đều có tác động tích cực đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB nhưng chỉ đạt hiệu quả ở mức độ vừa phải. Ngoài ra, tính hữu hiệu của hệ thống KSNB còn bị ảnh hưởng bởi một số các yếu tố không giải thích được như: khung thời gian tối thiểu để sửa chữa các sai sót hoặc gian lận, hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực trong ngân hàng để tránh gây lãng phí, …Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của hệ thống KSNB trong ngành ngân hàng là không thể bị phá hủy do tính đặc trưng của lĩnh vực hoạt động này có vai trò quan trọng trong nền kinh tế vĩ mô.
Đồng thời, đưa ra khuyến nghị để cải thiện tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, hội đồng kiểm soát tại các ngân hàng nên kiểm tra, sửa đổi, phê duyệt định kỳ ít nhất mỗi năm một lần. Nghiên cứu của Asiligwa & Rennox (2017): mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường tính hữu hiệu của hệ thống KSNB đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Kenya. Dựa trên Báo cáo COSO và kế thừa các nguyên cứu có liên quan, nhóm tác giả xây dựng thang đo tính hữu hiệu của hệ thống KSNB bằng 5 thành phần: môi trường kiểm soát (với 9 biến quan sát), đánh giá rủi ro (với 4 biến quan sát),hoạt động kiểm soát (với 10 biến quan sát), thông tin và truyền thông (với 5 biến quan sát), giám sát (với 5 biến quan sát). Hiệu quả hoạt động được đo lường bằng cách sử dụng giá trị trung bình của Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) được 12 thu thập từ các Báo cáo tài chính trong khoảng thời gian 5 năm (từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 12 năm 2014).
Nghiên cứu được tiến hành quan sát tại 43 ngân hàng thương mại ở Kenya. Để thu thập dữ liệu nghiên cứu, nhóm tác giả đã gửi một bảng câu hỏi có cấu trúc theo đang đo Likert 5 mức độ đến các nhân viên tại ngân hàng có tham gia vào quá trình ra quyết định và thực hiện KSNB như: nhân sự cấp cao, nhà quản lý và bộ phận kiểm toán nội bộ. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa hệ thống KSNB và hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng thương mại ở Kenya, mô hình hồi quy có hệ số xác định R2 = 65,2%.