Thực trạng hút thuốc lá thuốc lá điện tử của sinh viên trường đại học y dược đại học quốc gia hà nội năm 2021 và một số yếu tố liên quan

Nghiên cứu thực trạng hút thuốc lá và thuốc lá điện tử của sinh viên Đại học Y Dược Quốc gia Hà Nội năm 2021 cùng các yếu tố liên quan.

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

60
11
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Thuốc lá

1.1.2. Thuốc lá điện tử

1.1.3. Thành phần của thuốc lá, thuốc lá điện tử

1.2. Tác hại của thuốc lá, thuốc lá điện tử

1.2.1. Thuốc lá

1.2.2. Thuốc lá điện tử

1.3. Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử

1.3.1. Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử chung

1.3.2. Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử ở sinh viên y khoa

1.4. Các giải pháp hạn chế hút thuốc lá, thuốc lá điện tử trong sinh viên y khoa

1.5. Một số nghiên cứu liên quan

1.5.1. Nghiên cứu trên thế giới

1.5.2. Nghiên cứu tại Việt Nam

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin

2.2.3. Các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.2.4. Xử lý và phân tích số liệu

2.2.5. Đạo đức nghiên cứu

2.2.6. Sai số và cách khắc phục

2.2.7. Hạn chế nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.2. Thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của sinh viên trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của sinh viên trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tình hình sử dụng thuốc lá và thuốc lá điện tử

Tình hình sử dụng thuốc láthuốc lá điện tử trong sinh viên Đại học Y Dược Quốc gia Hà Nội năm 2021 cho thấy một thực trạng đáng báo động. Theo số liệu khảo sát, tỷ lệ sinh viên hút thuốc lá truyền thống là 20,7%, trong khi tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử là 3,6%. Điều này cho thấy sự gia tăng trong việc sử dụng thuốc lá điện tử, một xu hướng đang trở nên phổ biến trong giới trẻ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có khoảng 70% sinh viên cho biết họ đã từng hút thuốc, và trong số đó, nhiều người có ý định bỏ thuốc nhưng gặp khó khăn trong việc thực hiện. Những con số này phản ánh một thực trạng nghiêm trọng về hút thuốc trong cộng đồng sinh viên, đặc biệt là trong khối ngành y khoa, nơi mà sinh viên được kỳ vọng là những người tiên phong trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

1.1. Tình hình sử dụng thuốc lá chung

Theo báo cáo của WHO, tỷ lệ hút thuốc lá trên toàn cầu đã giảm từ 27% năm 2000 xuống 20% năm 2016. Tuy nhiên, số lượng người hút thuốc vẫn không thay đổi, với khoảng 1,1 tỷ người trưởng thành vẫn tiếp tục hút thuốc. Tại Việt Nam, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới là 45,3% và ở nữ giới là 1,1%. Điều này cho thấy rằng mặc dù có những nỗ lực trong việc giảm tỷ lệ hút thuốc, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Đặc biệt, trong nhóm sinh viên, tỷ lệ hút thuốc lá vẫn ở mức cao, cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp hiệu quả hơn để giảm thiểu tình trạng này.

1.2. Tình hình sử dụng thuốc lá điện tử

Sự gia tăng trong việc sử dụng thuốc lá điện tử đã trở thành một vấn đề đáng lo ngại. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ sinh viên sử dụng thuốc lá điện tử đã tăng từ 0,2% năm 2015 lên 3,6% năm 2020. Điều này cho thấy rằng thuốc lá điện tử đang trở thành một lựa chọn phổ biến hơn trong giới trẻ, đặc biệt là trong sinh viên. Nhiều sinh viên cho rằng thuốc lá điện tử ít gây hại hơn so với thuốc lá truyền thống, nhưng thực tế cho thấy rằng nó cũng có những tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe. Việc giáo dục sinh viên về những rủi ro liên quan đến thuốc lá điện tử là rất cần thiết để giảm thiểu tình trạng này.

II. Các yếu tố liên quan đến thực trạng hút thuốc

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng hút thuốc lá và thuốc lá điện tử trong sinh viên. Một trong những yếu tố chính là giới tính, với tỷ lệ nam sinh viên hút thuốc cao hơn nữ sinh viên. Ngoài ra, tuổi tác cũng là một yếu tố quan trọng, khi sinh viên ở các năm học cuối có xu hướng hút thuốc nhiều hơn so với sinh viên năm nhất. Các yếu tố xã hội như bạn bè, môi trường sống và áp lực học tập cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen hút thuốc. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả hơn nhằm giảm thiểu tình trạng hút thuốc trong sinh viên.

2.1. Giới tính và tuổi tác

Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ hút thuốc ở nam sinh viên cao hơn nhiều so với nữ sinh viên. Cụ thể, tỷ lệ hút thuốc ở nam sinh viên là 20,7%, trong khi ở nữ sinh viên chỉ là 2,7%. Điều này cho thấy rằng giới tính có ảnh hưởng lớn đến thói quen hút thuốc. Bên cạnh đó, sinh viên ở các năm học cuối có tỷ lệ hút thuốc cao hơn so với sinh viên năm nhất, cho thấy rằng áp lực học tập và môi trường xã hội có thể tác động đến hành vi hút thuốc.

2.2. Ảnh hưởng của môi trường xã hội

Môi trường xã hội, bao gồm bạn bè và gia đình, có ảnh hưởng lớn đến thói quen hút thuốc của sinh viên. Nhiều sinh viên cho biết họ bắt đầu hút thuốc do bạn bè rủ rê. Hơn nữa, sinh viên sống trong môi trường có nhiều người hút thuốc có xu hướng dễ dàng bị ảnh hưởng và bắt chước hành vi này. Việc tạo ra một môi trường không khói thuốc trong trường học và gia đình là rất quan trọng để giảm thiểu tình trạng hút thuốc trong sinh viên.

III. Giải pháp hạn chế hút thuốc lá và thuốc lá điện tử

Để giảm thiểu tình trạng hút thuốc lá và thuốc lá điện tử trong sinh viên, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường giáo dục về tác hại của thuốc lá và thuốc lá điện tử trong chương trình giảng dạy. Các trường đại học cần xây dựng các chương trình giáo dục sức khỏe, cung cấp kiến thức về tác hại của thuốc lá và cách từ bỏ thuốc lá. Bên cạnh đó, cần có các chính sách cấm hút thuốc trong khuôn viên trường và tạo ra môi trường không khói thuốc.

3.1. Giáo dục và truyền thông

Giáo dục và truyền thông là những công cụ quan trọng trong việc giảm thiểu tình trạng hút thuốc. Các chương trình giáo dục cần được thiết kế để cung cấp thông tin đầy đủ về tác hại của thuốc lá và thuốc lá điện tử. Việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để truyền tải thông điệp về sức khỏe cũng là một cách hiệu quả để tiếp cận với sinh viên.

3.2. Chính sách cấm hút thuốc

Các trường đại học cần thực hiện nghiêm túc các chính sách cấm hút thuốc trong khuôn viên trường. Việc tạo ra một môi trường không khói thuốc sẽ giúp sinh viên dễ dàng từ bỏ thói quen hút thuốc. Ngoài ra, cần có các biện pháp hỗ trợ cho sinh viên muốn bỏ thuốc, như cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ cai thuốc.

01/02/2025
Thực trạng hút thuốc lá thuốc lá điện tử của sinh viên trường đại học y dược đại học quốc gia hà nội năm 2021 và một số yếu tố liên quan

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm 1. Thuốc lá Thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác [6]. Thuốc lá điện tử Là các thiết bị điện tử sử dụng pin để làm nóng dung dịch có chứa nicotine và các chất hóa học khác, đựng trong ống/bình chứa dùng một lần hoặc có thể tái nạp, tạo ra sol khí (khói) cho người sử dụng hít vào [7].

Thành phần của thuốc lá, thuốc lá điện tử 1. Thuốc lá Theo báo cáo năm 2010 của Tổng hội Y khoa Hoa kỳ, khói thuốc lá chứa 7.000 hóa chất, trong đó có 69 chất gây ung thư. Một số chất độc hại điển hình trong khói thuốc lá gồm: Nicotine: Nicotine là một chất gây nghiện có trong thuốc lá, được hấp thụ vào máu và ảnh hưởng đến não bộ trong khoảng 10 giây sau khi hút vào. Sau mỗi lần hít một hơi thuốc lá, nicotine gây tăng nhịp đập của tim, co thắt mạch máu ở tim, tăng mạch và huyết áp.

Cơ quan Kiểm soát Dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp nicotine vào nhóm các chất có tính chất dược lý gây nghiện mạnh, tương tự Heroin và Cocain. Khi nicotine trong khói thuốc gắn kết thụ thể nicotine trên các tế bào thần kinh tại “trung tâm thưởng” ở hệ viền não bộ, các hóa chất trung gian dẫn truyền thần kinh được phóng thích gây ra một loạt các phản ứng hóa học tạo ra nhiều tác động tâm thần kinh như cảm giác sảng khoái, vui vẻ, tăng hoạt động nhận thức. 3 Tuy nhiên cảm giác đó sẽ mau qua đi sau vài phút. Khi nồng độ nicotine trong cơ thể giảm xuống, người hút thuốc sẽ cảm thấy bứt rứt, căng thẳng; không tập trung được; buồn bã, lo lắng; rối lọan giấc ngủ.

vì vậy để có sự thoải mái, người hút thuốc phải tiếp tục hút thuốc. Ở những người sử dụng thuốc lá, nicotine được tìm thấy ở tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể và trong cả sữa mẹ. Đối với những người hút trên 15 điếu thuốc một ngày, nồng độ nicotine trong máu luôn ở mức cao làm cho việc cai thuốc trở lên khó khăn hơn rất nhiều. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhà sản xuất thuốc lá sử dụng nhiều hoá chất đi kèm nhằm tăng độ hấp thu nicotine vào cơ thể.

Hắc ín (Tar): Hắc ín hay còn gọi là nhựa thuốc lá, có màu đen và quánh giống như nhựa đường, chứa rất nhiều chất gây ung thư. Carbon monoxide (khí CO): Khí CO trong khói thuốc lá khi hấp thụ vào máu sẽ gắn kết rất chặt với hemoglobine trong hồng cầu, làm giảm khả năng vận chuyển oxy của hồng cầu, giảm nồng độ oxy trong máu, làm máu đặc hơn và làm tăng gánh nặng cho tim. Khí CO góp phần hình thành các mảng xơ vữa động mạch đồng thời làm suy giảm sự hấp thụ các chất dinh dưỡng thiết yếu và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và điều chỉnh cơ thể, liên quan đến bệnh tim, đột quỵ và các vấn đề tuần hoàn khác. Benzene: Là một chất sinh ung thư được tìm thấy trong khói của dầu khí hay trong thuốc trừ sâu bọ.

Chất này có nồng độ rất cao trong khói thuốc lá, lượng benzene tác động đến con người từ khói thuốc lá chiếm một nửa lượng benzene xâm nhập vào con người từ tất cả các nguồn. Nitrosamines: Là một chất gây ung thư rất mạnh có nhiều trong khói thuốc và cả trong các sản phẩm thuốc lá không khói. Ammonia: Là một chất được sử dụng trong thuốc kích thích tăng trưởng và trong các sản phẩm tẩy rửa. Trong sản xuất thuốc lá, chất này được sử dụng 4 tăng cường khả năng hấ p thu ̣ nicotine của niêm ma ̣c đường hô hấ p, vì thế cùng mô ̣t lươṇ g khói thuố c hit́ vào, lươṇ g nicotine đươ ̣c hấ p thu ̣ tăng lên.

Formaldehyde: Dung dịch dùng trong ướp xác, và nó cũng có nhiều trong khói thuốc. Chất này gây kích thích mũi, họng và mắt của người hút thuốc khi hít phải khói thuốc lá. Polycyclic aromatic hydrocarbon (PAH): Là một chất gây ung thư tìm thấy trong dầu diezen và sản phẩm đốt cháy khác [8]. Thuốc lá điện tử Các thành phần chính có trong dung dịch thuốc lá điện tử thường bao gồm: nicotine, propylene glycol, glycerin, và chất tạo hương vị (có hơn 15.500 loại hương vị khác nhau, trong đó, nhiều loại có chứa chất độc) [9].

Khói của thuốc lá điện tử: Có chứa nicotine, acetaldehyde, aceton, acrolein, formaldehyde, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC), hydrocacbon thơm đa vòng (PAHs), nitrosamine đặc trưng của thuốc lá (TSNA) và kim loại (nồng độ chì, crom, niken và fomandehit được tìm thấy trong khói của một số sản phẩm TLĐT ở mức bằng và cao hơn thuốc lá điếu truyền thống) [10]. Tác hại của thuốc lá, thuốc lá điện tử 1. Thuốc lá Khói thuốc lá chứa hơn 7000 hóa chất trong đó có 69 chất gây ung thư. Sử dụng thuốc lá gây ra 25 loại bệnh , chủ yếu thuộc 4 nhóm chính gồm: 1.

Nhóm các bệnh ung thư, với 11 loại ung thư do hút thuốc gây ra trong đó nguy hiểm và thường gặp: nhất là ung thư phổi, khí phế quản, ung thư thanh quản, ung thư khoang miệng, ung thư vòm họng; 2. Nhóm bệnh tim mạch, bao gồm: tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim; 3. Nhóm các bệnh hô hấp gồm: viêm đường hô hấp và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính; 5 4. Nhóm các bệnh về sinh sản và sinh dục ở cả hai giới như: giảm chất lượng tinh trùng, bất lực ở nam giới, tăng nguy cơ vô sinh, đẻ non, sảy thai, thai lưu ở nữ giới [8].

Thuốc lá điện tử Gây nghiện, ảnh hưởng phát triển não bộ của trẻ em và thanh thiếu niên[9]. Tăng nguy cơ bắt đầu sử dụng thuốc lá điếu truyền thống: Nghiên cứu cho thấy thanh thiếu niên và người trẻ chưa bao giờ hút thuốc lá nhưng sử dụng thuốc lá điện tử thì có nguy cơ bắt đầu hút thuốc lá điếu truyền thống cao hơn 3,5 lần so với nhóm chưa từng sử dụng thuốc lá điện tử [11]. Gây chấn thương nghiêm trọng do nổ pin. Mỹ: từ năm 2009 đến 2015 xảy ra 92 vụ cháy/nổ do thuốc lá điện tử, gây chấn thương ở 47 người và thiệt hại tài sản.

Hơn 100 vụ cháy/nổ, 2 trường hợp tử vong do cháy/nổ thuốc lá điện tử được ghi nhận ở Anh [12]. Bệnh cấp và mãn tính nguy hiểm liên quan đến thuốc lá điện tử: Hô hấp: sử dụng thuốc lá điện tử có liên quan đến tổn thương phổi cấp tính, viêm phổi do lipoid, viêm phổi tăng bạch cầu ái toan, viêm phổi thể lỏng và viêm tiểu phế quản tắc nghẽn [13]. Ung thư: nguy cơ ung thư cao do kim loại nặng và các hợp chất carbonyl độc hại có trong khói thuốc lá điện tử [14], [15]. Tim mạch: tăng nguy cơ hình thành huyết khối và xơ vữa động mạch, tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, rối loạn chức năng nội mô liên quan đến bệnh tim mạch [16].

Bệnh cấp và mãn tính nguy hiểm liên quan đến thuốc lá nung nóng: phơi nhiễm chất độc hại (nitrosamines, aldehydes, carbon monoxide v.v) có trong khói của thuốc lá nung nóng liên quan tới các loại ung 6 thư phổi, mũi, thực quản, gan, tụy, cổ tử cung, tăng nguy cơ tim mạch, đột quỵ [16]. Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử 1. Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử chung Báo cáo Toàn cầu và Xu hướng hút thuốc lá 2000 - 2025 của WHO cho thấy: tình trạng hút thuốc lá đã giảm đáng kể từ năm 2000 nhưng mức độ giảm chưa đáp ứng được mục tiêu toàn cầu về bảo vệ con người khỏi nguy cơ tử vong bởi các bệnh tim mạch và các bệnh không lây nhiễm khác (NCDs) do thuốc lá. Tỷ lệ hút thuốc lá đã giảm từ 27% năm 2000 xuống 20% năm 2016.

Tuy nhiên, nếu cứ với tốc độ này thì đến năm 2025, tỷ lệ hút thuốc ở người trên 15 tuổi chỉ giảm được 22% mà không đạt được 30% như mục tiêu toàn cầu đã đề ra. Mặc dù tỷ lệ hút thuốc lá giảm nhưng số lượng người hút lại này hầu như không thay đổi trong suốt hơn một thập kỷ qua. Năm 2000, thế giới có 1,1 tỷ người trưởng thành (trên 15 tuổi) hút thuốc lá thì hiện nay con số này cũng là 1,1 tỷ người. Đáng chú ý là hơn 80% người hút thuốc lá sống tại các nước có thu nhập thấp và trung bình.

Tỷ lệ hút thuốc lá ở những nước này giảm chậm so với các nước thu nhập cao, trong khi số người hút thuốc lá ở những nước này gia tăng. Điều này sẽ làm gia tăng gánh nặng bệnh tật và đói nghèo tại chính những quốc gia này. Theo giới tính, tỷ lệ nam giới trên 15 tuổi hút thuốc lá giảm từ 43% năm 2000 xuống 34% năm 2015; nữ giới giảm từ 11% năm 2000 xuống 6% năm 2015. Trong số 1,1 tỷ người hút thuốc lá có ít nhất 367 triệu người, chiếm khoảng 6,5% dân số trên 15 tuổi toàn cầu sử dụng thuốc lá không khói (trong đó nam giới: 8,4%; nữ giới: 4,6%).

Nhóm có tỷ lệ hút thuốc cao nhất hiện nay là 25-64 tuổi (20,2%-25,4%); nhóm 45-54 tuổi là 25,4% [2]. 7 Theo Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá (GATS 2015), Việt Nam nằm trong số 15 nước có số người hút thuốc lá nhiều nhất thế giới. Tỷ lệ hút thuốc của nam giới là 45,3%; nữ giới là 1,1% và tính chung là 22,5% người trưởng thành (tương đương 15,6 triệu người) [4]. Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử ở sinh viên y khoa Đã có rất nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới chứng minh tình hình hút thuốc lá trong SV y khoa vẫn còn tương đối phổ biến [18], [20], [21], [24], [25].

Một nghiên cứu mang tính chất quốc tế do đơn vị phòng chống thuốc lá của Hiệp hội quốc tế phòng chống lao và bệnh phổi phối hợp với Tổ chức y tế thế giới, Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ và Hiệp hội quốc tế về phòng chống ung thư đã được tiến hành trên 9.000 SV trong 51 trường đại học y thuộc 42 nước đã cho thấy rằng tỷ lệ hút thuốc lá trong SV y biến động tương đối rộng từ 0 - 56,9% ở nam và 0 - 47% ở nữ [17]. “Điều tra toàn cầu về tình hình hút thuốc lá của SV Y khoa, nghiên cứu tại Việt Nam, năm 2006” cho thấy: tỷ lệ hút thuốc lá khá cao trong SV y khoa. Tỷ lệ đã từng hút thuốc ở nam SV là 57,1%, hiện hút là 20,7%, ở nữ SV, tỷ lệ này tương ứng là 19,8% và 2,7%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ