Chương 1. Tổng quan tài liệu Chương 2. Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả và bàn luận.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu thành phố Quy Nhơn 1. Vị trí địa lý Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Định, phía Đông là biển Đông, phía Tây giáp huyện Tuy Phước, phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía Nam giáp thị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên. Quy Nhơn nằm trong phạm vi tọa độ từ 13°36' đến 13°54' vĩ Bắc, từ 109°06' đến 109°22' kinh Đông, cách Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 400 dặm về phía Nam, cách thành phố Pleiku (Tây Nguyên) 105 dặm.
Cách Đà Nẵng 195 dặm, cách Huế 247 dặm, cách Nha Trang 130 dặm, cách Tuy Hòa 62 dặm và cách Quảng Ngãi 109 dặm (Chi cục thống kê tỉnh Bình Định, 2010). Khí hậu Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều. Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1- 26,1°C, cao nhất là 31,7°C và thấp nhất là 16,5°C.
Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,0°C, cao nhất 39,9°C và thấp nhất 15,8°C. Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5-27,9% và độ ẩm tương đối 79-92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối trung bình là 79%. Chế độ mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12. Riêng đối với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ tháng 5 đến tháng 8 do ảnh 5 hưởng của mùa mưa Tây Nguyên.
Mùa khô kéo dài tháng 1 đến tháng 8. Đối với các huyện miền núi tổng lượng mưa trung bình năm 2. Đối với vùng duyên hải tổng lượng mưa trung bình năm là 1. Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi xuống duyên hải và có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Về bão: Bình Định nằm ở miền Nam Trung bộ Việt Nam, đây là miền thường có bão đổ bộ vào đất liền. Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào. Tình hình chăn nuôi chó và dịch bệnh trên thế giới và trong nước 1. Tình hình chăn nuôi chó và dịch bệnh trên thế giới Loài chó được con người thuần hoá từ rất sớm và được nuôi rộng rãi trên khắp thế giới.
Chó có mặt ở mọi quốc gia, được con người nuôi và yêu thương như một thành viên trong gia đình, chó được xem là người bạn trung thành của con người. Ở các nước chăn nuôi phát triển chó được nuôi vào việc chăn cừu, dê; ngoài ra chó được nuôi và huấn luyện để thi hành nhiệm vụ đặc biệt như phát hiện ma tuý, truy đuổi tội phạm… Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 500 triệu con chó thuộc 200 – 300 giống chó nuôi khác nhau. Các giống chó như Berger của Đức, chó Nhật của Nhật Bản, chó Đốm của Anh…trở thành giống chó thương hiệu có mặt trên khắp thế giới. Cũng như các loài vật khác, chó được nuôi với số lượng nhiều và mật độ dày sẽ mắc các chứng bệnh như: Vi khuẩn, virus và ký sinh trùng.
Một số nước để phục vụ tốt cho thú cưng của mình đã hình thành ngành đào tạo chuyên chuyên sâu về các bệnh ở chó như: Mỹ, Úc, Thái Lan…. Tình hình chăn nuôi chó ở trong nước Ở Việt Nam, chó được nuôi từ rất lâu đời với các loài chó như: chó vàng, chó Phú Quốc. Gần đây sự tự do hội nhập của thế giới nên nhiều giống chó 6 quý đã được nuôi ở Việt Nam như: Chó Đốm, chó Berger, chó Nhật, chó xù Bắc Kinh… Ở nông thôn Việt Nam nhà nào cũng nuôi ít nhất là một con chó, họ nuôi với mục đích làm cảnh, giữ nhà, bắt chuột và săn thú rừng. Hiện nay, chó nuôi thương phẩm cũng đem lại thu nhập cao cho người chăn nuôi.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa vì vậy việc chăn nuôi chó cũng gặp phải những khó khăn trong công tác phòng chống dịch bệnh, mùa nắng nóng là điều kiện để dịch bệnh dại xảy ra ở chó, mùa mưa chó mắc phải các chứng bệnh về hô hấp, đường ruột và ký sinh trùng. Vì vậy, mà người chăn nuôi cần phải thực hiện phòng và trị bệnh cho chó một cách phù hợp. Tình hình dịch bệnh trên chó và công tác thú y ở thành phố Quy Nhơn Theo kết quả chẩn đoán và điều trị tại bệnh xá thú y của Chi cục chăn nuôi - thú y Bình Định chó thường mắc một số bệnh chủ yếu là: bệnh ở đường ruột, hô hấp và ký sinh trùng. Qua chẩn đoán lâm sàng, chó nuôi trên địa bàn thành phố Quy Nhơn thường mắc các chứng bệnh về đường ruột như bệnh: Viêm ruột, Care, Parvovirus; bệnh về đường hô hấp như viêm phổi và bệnh do ký sinh trùng như: bệnh sán dây, giun đũa, ve bét.
Đa số cho nuôi trên địa bàn thành phố Quy Nhơn là chó cảnh, chó nhập từ nước ngoài về nên sức đề kháng đối với các bệnh nói trên không cao. Trên địa bàn thành phố Quy Nhơn có mạng lưới thú y cơ sở và có bệnh xá thú y của chi cục nên trong công tác phòng, trị bệnh cho chó, do được kịp thời do vậy chó bị bệnh được điều trị khỏi tương đối cao, tỷ lệ chết thấp. Những điều kiện ảnh hưởng đến tình hình nhiễm một số bệnh ở chó Qua chẩn đoán, điều trị và điều tra tình hình dịch bệnh cho thấy chó thường nhiễm các bệnh ở đường ruột, hô hấp và ký sinh trùng là do các nguyên nhân sau: Thời tiết ở thành phố Quy Nhơn thay đổi thất thường là điều kiện thường xuyên ảnh hưởng đến các bệnh về đường hố hấp và đường 7 ruột ở chó; người nuôi chó còn cho chó ăn những thức ăn tươi, sống như: phổi lợn, gan lợn, cá sống vì vậy mà chó dễ mắc các bệnh về ký sinh trùng; người nuôi chó cảnh thường dắt chó đến một số nơi tụ tập để giao lưu, đây là điều kiện làm cho chó dễ bị lây nhiễm các bệnh ngoại ký sinh trùng như: ve, rận, bọ chét.và các bệnh truyền nhiễm khác. Các giống chó nuôi phổ biến ở Việt Nam hiện nay 1.
Một số giống chó địa phương - Giống chó Vàng: Đây là giống chó nuôi phổ biến nhất, có tầm vóc trung bình, cao 50–55cm, nặng 12–15kg, là giống chó săn được nuôi để giữ nhà, săn thú và làm thực phẩm [15],[16]. - Giống chó Phú Quốc: Nguồn gốc từ bán đảo Phú Quốc Việt Nam, thể hình khá lớn thể trọng bình quân lúc 12 - 15 tháng tuổi đạt từ 12,6 - 13,6kg, cao 45,65cm, đầu cân đối, trên trán có nếp nhăn, mắt đen linh hoạt, tai hướng về phía trước hình chữ V luôn thẳng đứng, đường lưng thẳng, trên lưng có một xoáy dài, đuôi khá dài, kiểu đuôi vòng uốn cong lên lưng, bộ lông ngắn dầy ôm sát thân, bóng mượt, màu sắc lông một màu có thể là vàng đen, vện hoặc úa [15][22]. - Giống chó H'Mông: Sống ở miền núi cao, được dùng giữ nhà và săn thú, có tầm vóc lớn hơn chó Vàng: chiều cao 55 - 60cm, nặng 18 - 20kg. Chó đực phối giống được ở 16 - 18 tháng tuổi, chó cái sinh sản ở độ tuổi 12 - 15 tháng.
Chó cái mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con. - Giống chó Lào: Thường thấy ở trung du và miền núi, lông xồm màu hung có 2 vệt trắng trên mí mắt, có tầm vóc lớn hơn. Chó cao 60 - 65cm, nặng 18- 25kg. Chó đực có thể phối giống ở độ tuổi 16 - 18 tháng.
Chó cái sinh sản ở độ tuổi 13 - 15 tháng. Mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con [22]. 8 - Giống Chó Mực: Lông đen tuyền, tầm vóc trung bình, lanh lẹ và có khả năng bắt chuột giỏi. - Giống Chó Vá: Lông đốm trắng đen hoặc khoang được nuôi để giữ nhà.
Một số giống chó nhập nội - Giống Berger Đức (German Shepherd) là giống chó có nguồn gốc từ Đức, trước kia được dùng vào việc chăn nuôi cừu. Berger Đức có sức khoẻ, thông minh, hình dáng tao nhã, đôi tai dài trên chiếc đầu rất linh hoạt, lanh lợi, bốn chân chắc khỏe, nhanh nhẹn. Lông màu đen nâu, đen vàng, đen xám,… Thân hình cao vừa phải 57 – 62cm, con cái 55 – 60cm, nặng từ 35 – 40kg. Ngoài tên German Shepherd, Berger Đức còn được gọi với tên khác: Alratian, Deutsthe, Sheperhund.
Trong chiến tranh thế giới thứ I, có 48.000 chó Berger Đức đã tham gia chiến đấu cùng quân đội Đức. Ở nước ta, chó Berger Đức được dùng vào nhiều công việc nghiệp vụ trong ngành: Cảnh sát, hải quan, quân đội, cứu trợ, cứu thương,… Những công việc bình thường như: Bảo vệ nhà, hàng hoá, con người,… Berger Đức có khả năng hoàn thành vượt bậc. Berger Đức thật xứng đáng đứng vào hàng ngũ những giống chó phổ biến nhất thế giới.[9] - Giống Rotweiler: Năm 1800 phát hiên tại thành phố nhỏ ở nước Đức. Trước kia Rotweiler được nuôi chủ yếu vào việc chăm sóc, chăn thả gia súc, bảo vệ tài sản.
Trong lĩnh vực quân sự Rotweiler đáng được khâm phục: nó tham gia nhảy dù cùng quân đội Brazin; lục địa châu Âu bị ngập lụt, những con chó đã di cư cùng đoàn người Ronan. 9 Với thân hình chắc và 4 chân vững chắc không cao lắm, đầu to, mắt sáng, khoảng cách 2 mắt khá xa, chó này trở thành giống chó bảo vệ tốt và dần được chăn nuôi rộng rãi. Chó có mầu lông đem sẫm, hình dáng cao trung bình khoảng 58 – 70 cm, trọng lượng từ 41 - 50 kg [12]. - Giống chó Fox: Chó Fox có nguồn gốc từ Pháp và đã du nhập vào nước ta đã lâu, Fox là giống chó nhỏ con tầm khoảng từ 1,5kg - 2,5kg ngoại hình nó nhìn như một con hươu thu nhỏ, ngoại hình như con cheo, nhưng không được mảnh mai nhỏ nhắn bằng.
đầu nhỏ, tai to mà vểnh, sống mũi hơi gãy, mõm nhỏ mà dài. Ngực chó Fox nở nang, bụng thon, bốn chân mảnh và cao nên chó chạy rất nhanh. Bộ lông chó Fox ngắn, có con lông sát như lông bò. Chó Fox có nhiều màu gồm màu vàng bò, đen bốn chân vàng v.
đôi chỗ có vá nâu hay vàng, có khi màu đen đặc biệt, phần mặt bao giờ cũng có vá hai bên, giữa sống mũi kéo dài lên đỉnh đầu là lằn đen hoặc trắng [11]. Chó Fox có khả năng săn bắt những loài thú nhỏ.