Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ngành nông nghiệp tại Việt Nam, phương thức chăn nuôi lợn đã có sự dịch chuyển rõ rệt từ quy mô nông hộ nhỏ lẻ sang mô hình trang trại quy mô vừa và lớn tập trung. Sự chuyển đổi này nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng con giống và thịt thương phẩm, nhưng đồng thời làm gia tăng mật độ nuôi nhốt và tạo điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh truyền nhiễm cũng như bệnh sản khoa bùng phát. Trong cơ cấu đàn giống sinh sản, bệnh sản khoa đóng vai trò là yếu tố trực tiếp hạn chế năng suất sinh học của đàn nái.

Bệnh viêm tử cung là một trong những hội chứng sản khoa phổ biến và gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng nhất ở lợn nái. Quá trình viêm nhiễm đường sinh sản dẫn đến hiện tượng giảm tiết sữa hoặc mất sữa hoàn toàn (hội chứng MMA), làm lợn con sơ sinh thiếu dinh dưỡng, còi cọc, tăng nguy cơ tiêu chảy và suy giảm tỷ lệ nuôi sống. Ở lợn mẹ, tổn thương niêm mạc tử cung và biến chứng tồn tại thể vàng khiến chu kỳ động dục bị kéo dài, nái chậm thụ thai, sảy thai, thai chết lưu, thậm chí dẫn đến vô sinh thứ phát buộc phải loại thải sớm, làm tăng chi phí con giống thay thế. Căn nguyên vi sinh vật gây bệnh chủ yếu là các vi khuẩn cơ hội thường trú như Escherichia coli, Streptococcus, Staphylococcus, Salmonella, Brucella... xâm nhập qua đường sinh dục trong quá trình sinh đẻ hoặc thụ tinh nhân tạo không đảm bảo vô trùng.

Xuất phát từ thực tế sản xuất tại cơ sở, tác giả Lê Thị May đã thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp: "Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của Công ty TNHH Phú Kỳ - xã Ngọc Lương - huyện Yên Thủy - tỉnh Hòa Bình và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh".

Mục đích nghiên cứu:

  • Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản tại trại.
  • Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả điều trị của hai phác đồ can thiệp kết hợp thuốc sát trùng thụt rửa cục bộ và kháng sinh toàn thân.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái theo các mức độ bệnh và theo các lứa đẻ khác nhau.
  2. Xác định những biểu hiện lâm sàng, biến đổi sinh lý đặc trưng của lợn nái khỏe mạnh và lợn nái mắc bệnh.
  3. Xác định hiệu lực điều trị và độ an toàn của một số loại thuốc kháng sinh và thuốc sát trùng dùng trong các phác đồ điều trị.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản (nái hậu bị, nái chửa, nái nuôi con) và các cá thể lợn nái mắc bệnh viêm tử cung sau khi sinh.
  • Địa điểm nghiên cứu: Trại lợn của Công ty TNHH Phú Kỳ, tọa lạc tại xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
  • Thời gian tiến hành: Từ ngày 02/03/2015 đến ngày 24/05/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết về giải phẫu học, sinh lý học sinh sản gia súc và bệnh lý học thú y chuyên sâu:

  • Giải phẫu và sinh lý đường sinh dục lợn nái: Cấu trúc gồm cơ quan sinh dục ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) và cơ quan sinh dục trong (âm đạo dài 10 - 12 cm; cổ tử cung dài 10 - 18 cm với các cột thịt cài răng lược; thân tử cung ngắn 3 - 5 cm; hai sừng tử cung dài 0,5 - 1 m ngoằn ngoèo; buồng trứng dài 1,5 - 2,5 cm, khối lượng 3 - 5 g). Chu kỳ động dục trung bình kéo dài 21 ngày (dao động 18 - 25 ngày); thời gian mang thai dao động 113 - 115 ngày (trung bình 114 ngày). Quy trình cai sữa sớm ở 21 ngày tuổi cho phép rút ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ xuống 140 ngày, đạt hệ số quay vòng 2,5 lứa/nái/năm.
  • Bệnh học các thể viêm tử cung: Phân loại bệnh lý thành các thể chính gồm viêm cổ tử cung (Cervicitis); viêm nội mạc tử cung (Endometritis, gồm thể cata cấp tính có mủ và thể màng giả); viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis); viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis); cùng các bệnh liên quan như viêm âm môn - âm đạo, viêm buồng trứng, và hiện tượng thể vàng tồn tại (Corpus luteum persistens).
  • Cơ chế tác dụng của dược phẩm thí nghiệm:
    • Dung dịch Biocid-30: Thành phần chứa 3% I-ốt hoạt tính, có phổ diệt khuẩn rộng (vi khuẩn, virus, nha bào, nấm), được sử dụng ở nồng độ pha loãng 1/2000 để thụt rửa tử cung nhằm làm sạch dịch rỉ viêm và sát khuẩn bề mặt niêm mạc.
    • Kháng sinh Vetrimoxin: Chứa Amoxycilin 200 g/100 ml, thuộc nhóm beta-lactam diệt khuẩn phổ rộng.
    • Kháng sinh Tylo-Genta: Phối hợp Tylosin tartrate (100 g - nhóm Macrolid, tác động mạnh trên vi khuẩn Gram dương và Mycoplasma) và Gentamycin sulfat (50 mg - nhóm Aminoglycosid, tác động mạnh trên vi khuẩn Gram âm và Gram dương).
    • Kháng sinh Penicillin kết hợp Streptomycin: Hỗn hợp bột đông khô gồm Penicillin G (1 triệu UI) và Streptomycin (1 g) hòa tan trong 50 ml nước cất dùng bơm trực tiếp vào xoang tử cung.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Phương pháp theo dõi lâm sàng: Xác định thân nhiệt (đo trực tràng), tần số hô hấp (đếm nhịp thở cử động cơ hoành/phút), và quan sát trạng thái dịch rỉ viêm (màu sắc trắng đục, phớt hồng, dịch nhầy lẫn mủ, mùi tanh hôi hoặc mảnh mô hoại tử).
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm điều trị: Thí nghiệm được thực hiện trên 37 lợn nái mắc bệnh chia thành 2 lô tương ứng với 2 phác đồ điều trị:
    • Phác đồ I (21 con: 12 nhẹ, 6 vừa, 3 nặng): Thụt rửa tử cung bằng Biocid-30 tỷ lệ 1/2000 (1000 - 2000 ml/con), chờ 30 phút thoát dịch viêm; bơm trực tiếp vào tử cung hỗn dịch Penicillin 1 triệu UI + Streptomycin 1 g (pha 50 ml nước cất); kết hợp tiêm bắp Vetrimoxin liều 1 ml/10 - 15 kg thể trọng/ngày và tiêm trợ sức (Vitamin B1, B12, C).
    • Phác đồ II (16 con: 7 nhẹ, 6 vừa, 3 nặng): Quy trình thụt rửa và bơm kháng sinh cục bộ tương tự Phác đồ I; kết hợp tiêm bắp Tylo-Genta liều 1 ml/10 - 15 kg thể trọng/ngày và tiêm thuốc trợ sức.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel 2007 để tính toán tỷ lệ mắc bệnh (%), tỷ lệ khỏi bệnh (%) và thời gian điều trị trung bình (ngày/con).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày bối cảnh chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi gia súc tại Việt Nam, tầm quan trọng của công tác kiểm soát bệnh sản khoa đối với chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của đàn nái. Phần này xác định rõ mục đích nghiên cứu, 3 mục tiêu cụ thể, cùng ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu thú y học thực tiễn và ý nghĩa ứng dụng trực tiếp tại các trại lợn công nghiệp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp toàn diện các cơ sở lý luận chuyên ngành chăn nuôi - thú y:

  • Giải phẫu cấu tạo và chức năng sinh lý của từng phần thuộc cơ quan sinh dục lợn nái; các chỉ số sinh lý lâm sàng bình thường (thân nhiệt 38,5 - 39,5 °C; tần số hô hấp 8 - 18 lần/phút).
  • Cơ chế sinh bệnh học của phản ứng viêm: rối loạn tuần hoàn cục bộ, rối loạn chuyển hóa tại mô, sự tích tụ dịch rỉ viêm và thâm nhiễm tế bào viêm.
  • Phân tích bệnh học các thể viêm tử cung (viêm nội mạc cata mủ, viêm nội mạc màng giả, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc) và các bệnh sinh sản kế phát.
  • Phân tích các yếu tố nguy cơ: dinh dưỡng mất cân đối, vệ sinh chuồng trại kém, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thao tác can thiệp đỡ đẻ không vô trùng, tiểu khí hậu chuồng nuôi và ảnh hưởng của lứa đẻ.
  • Cơ chế tác dụng dược lý của Biocid-30, Tylo-Genta, Vetrimoxin, Penicillin, Streptomycin.
  • Tổng quan các công trình nghiên cứu dịch tễ viêm tử cung trong nước (Phùng Thị Vân, Nguyễn Xuân Bình, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Văn Thanh) và ngoài nước (Madec, Kaminski, Xobko, Giadenko, Vtrekaxova).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xác định địa điểm (Trại lợn Công ty TNHH Phú Kỳ - Hòa Bình), thời gian thực hiện (02/03/2015 - 24/05/2015), quy mô khảo sát lâm sàng trên 300 nái và cỡ mẫu điều trị 37 nái. Trình bày chi tiết tiêu chuẩn phân loại bệnh nhẹ - vừa - nặng, sơ đồ bố trí thử nghiệm so sánh 2 phác đồ điều trị (Bảng 3.1) và các công thức toán học thống kê tỷ lệ.

Phần 4: Kết quả đạt được

Chương này chia thành 2 phần nội dung thực nghiệm lớn:

Kết quả công tác phục vụ sản xuất

  • Chăm sóc nuôi dưỡng: Thiết lập khẩu phần thức ăn cho nái chửa theo từng giai đoạn mang thai (tuần 1 - 12 dùng cám 566 SF mức 1,5 - 2 kg/ngày; tuần 13 - 14 mức 2,5 - 3 kg/ngày; từ tuần 15 dùng cám 567 SF mức 3,5 - 4 kg/ngày). Quy trình giảm cám trước khi đẻ 3 ngày (giảm về mức 1 kg/ngày vào ngày đẻ dự kiến) nhằm phòng ngừa đẻ khó do trực tràng ứ phân. Quy trình chăm sóc lợn con (bấm nanh, cắt rốn ngày 1; bấm tai, cắt đuôi, tiêm sắt ngày 2 - 3; phòng cầu trùng ngày 3 - 4; tập ăn cám 550 SF ngày 4 - 6; tiêm dịch tả ngày 16 - 18; cai sữa lúc 21 ngày tuổi).
  • Thụ tinh nhân tạo: Chuẩn hóa quy trình 6 bước với liều tinh 80 - 100 ml, mật độ 1,5 - 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng.
  • Quy trình vệ sinh - thú y: Vệ sinh sát trùng chuồng trại định kỳ bằng Omicide (1:1200), ngâm tấm đan chuồng đẻ bằng dung dịch NaOH 10%, xịt khung chuồng bằng NaOH 3%.
  • Lịch tiêm phòng vaccine: Thực hiện nghiêm ngặt quy trình tiêm phòng của Charoen Pokphand (CP) Việt Nam phòng bệnh Thiếu sắt, Tiêu chảy, Cầu trùng, Khô thai (Parvo), Dịch tả (Coglapest), Giả dại (Begonia), Lở mồm long móng (Aftopor).
  • Chẩn đoán và điều trị bệnh thực tế: Tham gia điều trị 9 bệnh lý phổ biến trên đàn lợn tại trại gồm: viêm tử cung (khỏi 34/37 con - 91,89%), viêm vú (khỏi 1/2 con - 50%), tiêu chảy lợn con (khỏi 45/45 con - 100%), khó đẻ (xử lý thành công 12/12 con - 100%), sốt sữa (khỏi 2/2 con - 100%), lợn con phân trắng (khỏi 102/110 con - 92,73%), viêm phổi (khỏi 8/10 con - 80%), viêm bao khớp (khỏi 32/39 con - 82,05%), bệnh ghẻ (khỏi 337/350 con - 96,28%). Các công tác kỹ thuật khác gồm đỡ đẻ 126 ca (an toàn 123 ca - 97,61%), tiêm sắt 383 con (100%), thiến lợn đực 221 con (100%), phẫu thuật thoát vị rốn/hecni 27 con (thành công 20 con - 74,07%).

Kết quả nghiên cứu chuyên đề

  • Biến đổi chỉ số sinh lý lâm sàng: Lợn nái khỏe có thân nhiệt trung bình 38,70 °C, tần số hô hấp 14,53 nhịp/phút, không có dịch rỉ viêm. Lợn nái viêm tử cung có thân nhiệt tăng cao, tần số hô hấp tăng lên 20,54 nhịp/phút (tăng 6,01 nhịp/phút so với nái khỏe), âm hộ sưng đỏ và liên tục chảy dịch viêm trắng đục hoặc phớt hồng có mùi hôi tanh.
  • Quy mô tổng đàn nái của trại tăng từ 550 con (năm 2014) lên 670 con (năm 2015).
  • Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung chung trên 300 nái kiểm tra đạt 12,33% (37 con mắc). Phân bố theo mức độ: thể nhẹ chiếm 6,33% (19 con), thể trung bình chiếm 4,00% (12 con), thể nặng chiếm 2,00% (6 con).
  • Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ: Lứa 1 có tỷ lệ mắc cao nhất đạt 15,38% (14/91 con); lứa 2 đạt 12,37% (12/97 con); lứa 3 có tỷ lệ mắc thấp nhất đạt 9,82% (11/112 con).
  • Kết quả thử nghiệm 2 phác đồ điều trị trên 37 nái cho thấy tỷ lệ chữa khỏi chung đạt 91,89% (34/37 con).

Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng kết các chỉ tiêu dịch tễ và hiệu quả phác đồ; chỉ rõ các tồn tại trong quá trình thực tập tại cơ sở; đề xuất các kiến nghị kỹ thuật đối với trang trại về kiểm soát môi trường chuồng nuôi và thao tác thú y.


Kết quả và đóng góp

Số liệu kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết phản ánh tình hình dịch tễ và hiệu quả điều trị tại trại lợn Công ty TNHH Phú Kỳ:

Bảng 1: Biến động quy mô đàn lợn nái của trại qua 2 năm (2014 - 2015)

STT Phân loại lợn nái Năm 2014 (con) Năm 2015 (con) Chênh lệch (con)
1 Lợn nái hậu bị 50 80 +30
2 Lợn nái chửa 350 440 +90
3 Lợn nái nuôi con 150 150 0
Tổng Tổng đàn nái 550 670 +120

Bảng 2: Tỷ lệ và mức độ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái

Mức độ mắc bệnh Số con kiểm tra (con) Số con mắc (con) Tỷ lệ mắc (%)
Thể nhẹ 300 19 6,33
Thể trung bình 300 12 4,00
Thể nặng 300 6 2,00
Tổng số 300 37 12,33

Bảng 3: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung phân theo lứa đẻ của lợn nái

Lứa đẻ Số nái kiểm tra (con) Số nái mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%)
Lứa 1 91 14 15,38
Lứa 2 97 12 12,37
Lứa 3 112 11 9,82
Tổng số 300 37 12,33

Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật của tác giả

  • Chăm sóc nái đẻ: Cần đặc biệt chú ý giám sát lợn nái đẻ lứa đầu tiên do khung xương chậu chưa phát triển hoàn thiện, nguy cơ đẻ khó và tổn thương cơ học đường sinh dục cao. Giảm thức ăn 3 ngày trước khi đẻ để trực tràng thông thoáng, hạn chế chèn ép tử cung.
  • Kỹ thuật can thiệp đỡ đẻ và dẫn tinh: Tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc vô trùng khi thụ tinh nhân tạo và can thiệp sản khoa; sát trùng kỹ tay và dụng cụ đỡ đẻ, bôi trơn cẩn thận khi phải can thiệp móc thai.
  • Quy trình điều trị kết hợp: Đối với nái mắc bệnh, cần phối hợp chặt chẽ giữa thụt rửa cục bộ bằng dung dịch sát trùng Biocid-30 (1/2000) nhằm tống xuất triệt để dịch rỉ viêm, sau đó bơm kháng sinh tại chỗ (Penicillin + Streptomycin) kết hợp tiêm bắp kháng sinh toàn thân (Vetrimoxin hoặc Tylo-Genta) cùng các vitamin trợ sức (B1, B12, C). Không thụt rửa thể tích lớn bằng dung dịch kích ứng mạnh khi nghi ngờ tổn thương sâu vào tầng cơ hoặc tương mạc tử cung.

Đóng góp thực tiễn của đề tài

  • Xác lập được bức tranh dịch tễ thực tế về bệnh viêm tử cung tại một cơ sở chăn nuôi lợn công nghiệp quy mô 670 nái tại tỉnh Hòa Bình.
  • Chứng minh tính khả thi và hiệu lực lâm sàng cao của quy trình điều trị kết hợp cục bộ và toàn thân, đạt tỷ lệ khỏi bệnh 91,89% trong điều kiện sản xuất đại trà.
  • Tổng hợp và chuẩn hóa các quy trình chăm sóc, vệ sinh phòng dịch và xử lý các ca bệnh sản khoa thường gặp trong thực tế chăn nuôi nái sinh sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:

    • Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa tương đối ngắn (kéo dài gần 3 tháng, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2015), chưa bao quát đủ các mùa trong năm để đánh giá toàn diện ảnh hưởng của biến đổi thời tiết và tiểu khí hậu chuồng nuôi qua các mùa khác nhau đến tỷ lệ phát sinh bệnh.
    • Nghiên cứu chỉ tiến hành tại một trại chăn nuôi đơn lẻ (Công ty TNHH Phú Kỳ - Hòa Bình) với điều kiện chuồng trại mới và quy trình kỹ thuật cố định.
    • Cỡ mẫu thực nghiệm điều trị giới hạn ở 37 nái bệnh; đề tài chưa thực hiện phân lập, định danh vi sinh vật trong phòng thí nghiệm để lập kháng sinh đồ xác định mức độ mẫn cảm cụ thể của các chủng vi khuẩn phân lập từ dịch viêm.
    • Chưa theo dõi dài hạn chỉ số sinh sản ở các chu kỳ sau (tỷ lệ phối giống đậu thai lại, số con sơ sinh còn sống/lứa, khoảng cách lứa đẻ sau điều trị).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Mở rộng phạm vi điều tra dịch tễ học bệnh viêm tử cung trên đàn nái qua tất cả các tháng và các mùa trong năm, tại nhiều mô hình trang trại khác nhau trên địa bàn.
    • Kết hợp kỹ thuật vi sinh vật học để lấy mẫu dịch rỉ viêm, nuôi cấy phân lập và kiểm tra tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn (E. coli, Streptococcus, Staphylococcus...) nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị theo kháng sinh đồ.
    • Theo dõi liên tục khả năng hồi phục chức năng sinh sản, tỷ lệ thụ thai và năng suất sinh sản của đàn nái sau khi được điều trị khỏi ở các chu kỳ đẻ kế tiếp.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận tốt nghiệp này mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên và học viên ngành Chăn nuôi, Thú y, Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp: Cung cấp nguồn tư liệu thực tế có cấu trúc chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm lâm sàng, kỹ thuật theo dõi các chỉ số sinh lý - bệnh lý gia súc, và phương pháp thống kê mô tả số liệu sản xuất thú y.
  • Kỹ thuật viên, bác sĩ thú y và người quản lý trang trại lợn sinh sản: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp về:
    • Định mức và quy trình cho ăn chuẩn hóa đối với lợn nái chửa theo từng tuần mang thai và kỹ thuật giảm thức ăn trước đẻ.
    • Quy trình thụ thai nhân tạo 6 bước và lịch tiêm phòng vaccine phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (dịch tả, khô thai, lở mồm long móng, giả dại) theo quy chuẩn kỹ thuật.
    • Quy trình pha chế và liều lượng sử dụng dung dịch sát trùng I-ốt (Biocid-30) trong thụt rửa tử cung an toàn, tránh gây bỏng rát niêm mạc.
    • Phác đồ điều trị kết hợp hiệu quả cao đối với bệnh viêm tử cung và các bệnh sản khoa, sơ sinh thường gặp (khó đẻ, sốt sữa, tiêu chảy, phân trắng lợn con).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên tổng đàn nái kiểm tra tại trại Phú Kỳ là bao nhiêu và phân bố theo mức độ nặng nhẹ như thế nào?
Qua kiểm tra lâm sàng trên 300 lợn nái sau sinh tại trại, có 37 cá thể mắc bệnh viêm tử cung, chiếm tỷ lệ chung là 12,33%. Phân bố theo mức độ bệnh: thể nhẹ có 19 con (chiếm 6,33%), thể trung bình có 12 con (chiếm 4,00%), và thể nặng có 6 con (chiếm 2,00%).

2. Vì sao lợn nái đẻ lứa 1 lại có tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung cao nhất so với lứa 2 và lứa 3?
Kết quả nghiên cứu cho thấy lợn nái đẻ lứa 1 mắc bệnh cao nhất với tỷ lệ 15,38% (14/91 con), trong khi lứa 2 là 12,37% (12/97 con) và lứa 3 giảm xuống 9,82% (11/112 con). Nguyên nhân là do lợn nái đẻ lứa đầu tiên có khung xương chậu chưa phát triển hoàn thiện về thể vóc, quá trình rặn đẻ khó khăn hơn, thời gian đẻ kéo dài và thường xuyên phải can thiệp cơ học bằng tay hoặc dụng cụ đỡ đẻ, dẫn đến xây sát và tổn thương niêm mạc đường sinh dục tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập.

3. Quy trình thụt rửa và dùng thuốc điều trị cục bộ tại tử cung được thực hiện như thế nào trong đề tài?
Tác giả sử dụng dung dịch Biocid-30 pha loãng với nước sạch theo tỷ lệ 1/2000 (1 ml thuốc pha với 2000 ml nước sạch), dùng 1000 - 2000 ml dung dịch đã pha để thụt rửa tử cung cho mỗi con nái. Sau khi bơm rửa, chờ khoảng 30 phút để toàn bộ dung dịch sát trùng và dịch rỉ viêm thoát hết ra ngoài. Sau đó, tiến hành bơm trực tiếp vào xoang tử cung hỗn hợp kháng sinh gồm 1 triệu UI Penicillin và 1 g Streptomycin hòa tan trong 50 ml nước cất.

4. Khẩu phần ăn của lợn nái chửa được trại điều chỉnh theo các giai đoạn mang thai như thế nào?
Trại áp dụng quy trình cho ăn bằng cám 566 SF và 567 SF chia làm 2 bữa/ngày:

  • Từ tuần 1 đến tuần 12 của thai kỳ: Ăn cám 566 SF, khẩu phần 1,5 - 2,0 kg/con/ngày (nái hậu bị cho ăn 1,5 kg/ngày).
  • Từ tuần 13 đến tuần 14 của thai kỳ: Ăn cám 566 SF, khẩu phần tăng lên 2,5 - 3,0 kg/con/ngày.
  • Từ tuần 15 trở đi đến trước đẻ: Ăn cám 567 SF, khẩu phần 3,5 - 4,0 kg/con/ngày.
  • Trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày: Mỗi ngày giảm 0,5 kg cám, đến ngày đẻ chỉ cho ăn 1,0 kg/con/ngày (nái gầy ăn 1,5 kg/con/ngày) để tránh chèn ép đường sinh dục.

5. Kết quả điều trị các ca bệnh sản khoa và bệnh lý khác trong đợt thực tập tại trại đạt tỷ lệ ra sao?
Trong công tác phục vụ sản xuất, tác giả đã tham gia xử lý và điều trị nhiều loại bệnh với kết quả: điều trị viêm tử cung đạt tỷ lệ khỏi 91,89% (34/37 con); khó đẻ xử lý thành công 100% (12/12 con); sốt sữa chữa khỏi 100% (2/2 con); tiêu chảy lợn con khỏi 100% (45/45 con); bệnh phân trắng lợn con khỏi 92,73% (102/110 con); bệnh ghẻ khỏi 96,28% (337/350 con); viêm khớp khỏi 82,05% (32/39 con); viêm phổi khỏi 80,00% (8/10 con); và phẫu thuật thoát vị rốn/hecni đạt an toàn 74,07% (20/27 con).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Thị May đã phản ánh chi tiết thực trạng dịch tễ bệnh viêm tử cung trên đàn nái tại Trại lợn Công ty TNHH Phú Kỳ (Hòa Bình) với tỷ lệ mắc chung là 12,33%, trong đó tỷ lệ mắc cao nhất tập trung ở lợn nái đẻ lứa đầu (15,38%). Đề tài đã thử nghiệm thành công quy trình điều trị kết hợp thụt rửa sát trùng bằng Biocid-30, bơm kháng sinh Penicillin - Streptomycin tại chỗ và tiêm bắp kháng sinh toàn thân (Vetrimoxin hoặc Tylo-Genta), mang lại tỷ lệ chữa khỏi cao đạt 91,89%. Các số liệu thực nghiệm và hệ thống quy trình kỹ thuật về chăm sóc, đỡ đẻ, thụ tinh nhân tạo và phòng dịch vaccine được trình bày trong công trình là nguồn tư liệu có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác thú y và quản lý chăn nuôi lợn nái sinh sản.