Đặt vấn đề Trong những năm gần đây Nhà nước ta đã cho nhập những giống gia súc, gia cầm có năng suất cao từ những nước có nền chăn nuôi phát triển nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu về thực phẩm ( thịt, trứng, sữa… ) ngày càng tăng cho xã hội. Mặt khác khi mức sống của người dân tăng lên, yêu cầu về các loại thực phẩm sạch ngày càng tăng. Do đó ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng là phải tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng tốt để đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Tuy nhiên, để chăn nuôi gà có năng suất và chất lượng cao ngoài vấn đề con giống và thức ăn thì công tác thú y, phòng bệnh là rất quan trọng.
Theo các nghiên cứu gần đây cho thấy, trong những bệnh truyền nhiễm xẩy ra trên đàn gà thì bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà (CRD) xẩy ra rất nhiều và thường xuyên, bệnh gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi, và thường gặp nhiều ở các đàn gà nuôi công nghiệp với mật độ cao. Bệnh CRD lây lan nhanh và tác động kéo dài gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm, bệnh gây chết 5 – 10%, giảm 20 – 30% tăng trọng trên gà, trên gà đẻ giảm tỷ lệ đẻ xuống còn 70 – 75%. Trong đàn gà khi có dịch, ngay cả với mức nhiễm thấp, bệnh hô hấp mãn tính vẫn làm hao tổn chi phí đáng kể cho các nhà chăn nuôi thông qua việc làm giảm hiệu quả thức ăn, tăng trọng trung bình thấp, giảm tính đồng đều của đàn, tăng chi phí trong chăn nuôi, quá trình điều trị kéo dài. Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh CRD gây ra trên đàn gia cầm, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Tình hình mắc bệnh CRD ở giống gà Isa Shaver tại trại gà của Công ty Thiên Thuận Tường, khu 1, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và phương pháp phòng trị.
Mục đích và mục tiêu thực hiện chuyên đề - Chẩn đoán lâm sàng bệnh CRD do Mycoplasma gallisepticum trên gà Isa Shaver thương phẩm. - Đề ra được biện pháp phòng trị bệnh thích hợp. - Xác định được tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà Isa Shaver thương phẩm. - Xác định được hiệu lực của thuốc Pulmotil AC trong việc phòng và trị bệnh CRD.
- Thông qua việc xác định tỷ lệ nhiễm (CRD) và hiệu lực điều trị của thuốc Pulmotil AC để khuyến cáo người chăn nuôi về biện pháp phòng trị bệnh (CRD). Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Đánh giá được ảnh hưởng của bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) đối với khả năng sản xuất của gà Isa Shaver thương phẩm. - Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh CRD qua các tuần tuổi.
- Là cơ sở cho việc lựa chọn giống gà phù hợp chăn nuôi tại Công ty. Ý nghĩa trong thực tiễn - Áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất. - Rèn luyện tác phong khoa học đúng đắn, sáng tạo. - Kết quả của chuyên đề góp phần vào công tác chăn nuôi gà an toàn và biện pháp phòng, trị bệnh CRD trên gà.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập * Quá trình thành lập và phát triển của Công ty cổ phần KTKSTTT Trang trại chăn nuôi của ông Trần Hòa nằm trên địa phận phường Cửa Ông - thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh. Trại được thành lập năm 2007.
Là trại tư nhân do ông Trần Hòa làm chủ đầu tư và là giám đốc công ty. * Cơ sở vật chất của trang trại - Trại gà của Công ty cổ phần KTKSTTT có khoảng 2 ha đất để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. - Khu nhà ở của công nhân được xây ở đầu hướng gió; nhà ở được lợp ngói đỏ; có hai dãy nhà ở, một dãy nhà năm phòng và một dãy nhà ba phòng. - Khu nhà ăn xây dựng khang trang, sạch sẽ.
Khu nấu ăn được trang bị tủ lạnh, bếp ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức ăn. - Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 25000 gà bao gồm: hai chuồng gà đẻ mỗi chuồng 3 dãy chuồng lồng, kích thước 2,5m × 75m/dãy, một chuồng gà thương phẩm có 8 ô kích thước 16m × 4,5m/ô. Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, kho thuốc. - Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn.
Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió đối với chuồng gà đẻ; 5 quạt đối với chuồng gà thương phẩm. Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính; mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m²; cách nền 1m; mỗi cửa sổ cách nhau 0,8m đối với 4 chuồng gà đẻ, còn chuồng gà thương phẩm hai bên tường lắp lưới sắt, che bạt đen. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng bạt đen. Ngoài ra, chuồng gà đẻ 1 còn được trang bị hệ thống cho ăn, nhặt trứng tự động hiện đại nhất hiện nay, với 100% thiết bị và dây chuyền nhập khẩu từ Đan Mạch.
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa chuồng và khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng. - Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho gà uống là nước giếng mua từ bên ngoài về (do trại xây dựng gần biển nên không thể khoan giếng lấy nước ngọt được). Nước dùng để vệ sinh dụng cụ chăn nuôi, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các bể chứa đầu chuồng. * Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau: 01: Chủ trại là giám đốc công ty.
01: Trưởng trại. 01: Kỹ thuật trại. 04: Công nhân và 1 sinh viên thực tập. 02: Bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại.
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm hai bộ phận chuồng gà đẻ và chuồng gà thương phẩm. Mỗi bộ phận thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại. Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở * Đối tƣợng nuôi của trại Trại gà của Công ty chủ yếu nuôi gà đẻ và gà thương phẩm thuộc giống gà Isa Shaver. Ngoài ra còn có nuôi thêm các giống gà khác là: Lương Phượng, Quý Phi, Ai cập, với số lượng không nhiều.
5 * Kết quả sản xuất của cơ sở - Hiện nay trung bình trại gà đẻ sản xuất được 9800 – 10500 quả trứng/ngày. - Trại thương phẩm nuôi gà từ 1 ngày tuổi đến 18 tuần tuổi đưa gà lên chuồng đẻ nhằm thay thế đàn gà cũ. Ngoài ra nuôi một số giống gà khác phục vụ sản xuất. - Tình hình sản xuất trại 3 năm gần đây.
Qua điều tra từ số liệu sổ sách theo dõi của trại gà 3 năm gần đây tính đến tháng 5 năm 2016 được thể hiện ở bảng 2. Tình hình sản xuất của trại gà (2014 - 2016) Số lƣợng gà của các năm (con) Chuồng nuôi Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Gà đẻ 10950 11900 11812 Gà thương phẩm 11740 12570 13000 Tổng số 22690 24470 24812 ( Nguồn: Bộ phận thống kê của Công ty Thiên Thuận Tường) Qua bảng 2.1 cho thấy: Số lượng gà của trại không có biến động lớn giữa những năm trước và năm nay. Số lượng gà có xu hướng tăng lên, đặc biệt gà thương phẩm tăng lên nhằm thay thế cho đàn gà đẻ không đủ tiêu chuẩn và phải loại thải. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 2.
Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà Gà có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu - sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp. Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hô hấp được bổ sung thêm 6 hệ thống túi khí. Túi khí có cấu trúc túi kín (giống như bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành. Theo chức năng, các túi khí được chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra).
Gà có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ. Các cặp túi khí hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau. Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính. Túi bên phải lớn hơn túi bên trái.
Cả hai túi có bọc tịt (túi thừa) kéo vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng - xương cùng, có thể nối cả với các xoang của những xương này. Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan. Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, dưới phổi, và kéo dài tới xương sườn cuối cùng. Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 - 4, nằm trên khí quản và thực quản.
Theo đường đi, các túi khí này tạo thêm các bọc, tỏa vào các đốt sống cổ, ngực và xương sườn. Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ. Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực. Phần giữa lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim.
Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm3, lớn hơn thể tích của phổi 10 - 12 lần. Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hòa nhiệt độ cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh. Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của gà thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường. 7 Gà hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp.
Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất.