Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi dê là một nhánh sản xuất truyền thống của ngành chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo sinh kế và phát triển kinh tế hộ gia đình ở các vùng trung du, miền núi. Tác giả mở đầu bằng các luận điểm thực tiễn của nhiều nhà hoạt động xã hội và nghiên cứu quốc tế: Mahatma Gandhi gọi dê là "con bò của nhà nghèo", Peacock coi dê là "ngân hàng của người nghèo", và R. M. Acharya (Chủ tịch Hội Chăn nuôi dê thế giới) khẳng định dê là "cơ quan bảo hiểm đáng tin cậy của người nghèo". Ưu thế sinh học của con dê thể hiện ở khả năng thích nghi cao với địa hình đồi núi đá hiểm trở, tập tính bầy đàn tốt, tận dụng được nhiều loại thức ăn thô xanh tự nhiên mà không cạnh tranh lương thực với con người, chu kỳ sinh sản ngắn, thành thục sớm và chi phí chuồng trại thấp.
Huyện Định Hóa nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, có diện tích tự nhiên 52.075,4 ha, dân số 90.086 người, địa hình chủ yếu là đồi núi với độ dốc trung bình 20 - 25° và độ cao trung bình 100 - 200 m. Phần lớn người dân trong huyện làm nông nghiệp, bao gồm các cộng đồng dân tộc Mông, Dao, Tày, Nùng, Giấy. Địa phương có truyền thống nuôi dê lâu đời, vừa cung cấp thịt cho thị trường nội huyện, toàn tỉnh Thái Nguyên, vừa xuất bán sang các tỉnh lân cận như Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Nội. Tuy nhiên, chăn nuôi dê tại Định Hóa vẫn duy trì phương thức quảng canh hoặc bán quảng canh nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình; giống vật nuôi chủ yếu là dê cỏ địa phương tầm vóc nhỏ hoặc con lai tự phát qua nhiều đời; công tác bổ sung dinh dưỡng tinh và phòng trừ dịch bệnh chưa được chuẩn hóa.
Nhằm cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển đàn dê địa phương, đề tài đặt ra 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Khảo sát được sự phân bố và số lượng của dê nuôi tại huyện Định Hóa – tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá được sự phát triển của đàn dê nuôi tại huyện Định Hóa – tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định được một số đặc điểm sinh học của dê Định Hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn dê đang được nuôi tại các hộ gia đình trên địa bàn huyện Định Hóa.
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực trạng phân bố, quy mô số lượng, cơ cấu tính biệt, lứa tuổi sinh sản, cơ cấu giống, cùng các chỉ tiêu ngoại hình, màu sắc lông và tập tính sinh học của đàn dê.
- Phạm vi không gian: 23 xã thuộc huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 18/5/2016 đến ngày 18/11/2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên hệ thống phân loại động vật học, giải phẫu sinh lý và tập tính học gia súc nhai lại nhỏ:
- Vị trí phân loại: Dê nhà (Capra hircus) thuộc lớp Động vật có vú (Mammalia), bộ Guốc chẵn (Artiodactyla - văn bản ghi Actiodactila), phân bộ Nhai lại (Ruminantia - văn bản ghi Rumnantia), họ Sừng rỗng (Bovidae - văn bản ghi Covicolvia), phân họ Dê cừu (Caprinae - văn bản ghi Capra rovanae), chi Dê (Capra).
- Nguồn gốc phát sinh: Dê nhà có hai nhánh tổ tiên hoang dã chính gồm Dê rừng Bezoar (Capra aegagrus) với sừng thẳng xoắn vặn phân bố ở Tiểu Á, và Dê rừng Markhor (Capra falconeri - văn bản ghi Capra Faloneri) với sừng cong vặn về phía sau phân bố tại vùng Himalaya, Afghanistan, Kashmir - Karakorum.
- Sinh lý tiêu hóa và nhai lại: Dạ dày 4 ngăn (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế). Dạ cỏ chiếm 50% khả năng tiêu hóa vật chất khô khẩu phần, pH duy trì 6,5 - 7,4, mật độ vi sinh vật đạt 1,5 - 2,0 × 10¹¹ tế bào/g chất chứa, phân giải được 80% cellulose thức ăn. Dung tích dạ múi khế chiếm 7% thể tích dạ dày kép, tiết dịch vị có enzyme pepsin, chymosin, lipase và HCl (0,12 - 0,46%).
- Sinh lý sinh sản: Chu kỳ động dục ở dê cái kéo dài 17 - 23 ngày; thời gian động dục kéo dài 12 - 48 giờ (thích hợp phối giống nhất từ giờ thứ 18 đến giờ thứ 36); thời gian mang thai 146 - 156 ngày; thể vàng tiết progesterone duy trì đến ngày 15 - 18 nếu không thụ thai. Ở dê đực, thể tích tinh dịch mỗi lần xuất dao động 2 - 12 ml, mật độ 500 triệu đến 2 tỷ tinh trùng/ml.
- Các chỉ số sinh lý lâm sàng chuẩn: Thân nhiệt trực tràng 101,5 - 104,0°F; tần số mạch 70 - 80 lần/phút; nhịp thở 12 - 15 lần/phút; nhu động dạ cỏ 1 - 1,5 lần/phút; thể tích máu chiếm 7% khối lượng cơ thể; hồng cầu 8 - 17,5 triệu/ml; bạch cầu 6 - 16 triệu/ml.
Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu:
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Thu thập số liệu chăn nuôi thông qua phiếu điều tra trực tiếp tại 1.242 hộ gia đình thuộc 23 xã của huyện Định Hóa; xác định số hộ chăn nuôi dê (720 hộ), tổng số lượng đàn dê (9.368 con), cơ cấu tính biệt và cơ cấu nhóm giống.
- Phương pháp quan sát hình thái học và tập tính: Đo đạc, quan sát trực tiếp đặc điểm đầu, tai, sừng, râu, mình, chân, khối lượng cơ thể giai đoạn trưởng thành; phân loại và đếm số lượng các dạng màu sắc lông trên toàn bộ 9.368 cá thể; theo dõi tập tính bầy đàn, cách tìm kiếm thức ăn, phản xạ nhai lại, ngủ nghỉ và tập tính sinh dục ngoài bãi chăn và trong chuồng.
- Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu theo các công thức tính tỷ lệ phần trăm và phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện (2008) trên phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng tự nhiên của huyện miền núi Định Hóa (địa hình núi đá, bãi chăn thả rộng, kinh nghiệm lâu đời của đồng bào dân tộc thiểu số). Phân tích nhu cầu tiêu thụ thịt dê chất lượng cao ngày càng tăng tại các đô thị và tỉnh lân cận. Xác lập 3 mục tiêu cụ thể, chỉ rõ ý nghĩa khoa học trong việc đánh giá thực trạng đàn dê và ý nghĩa thực tiễn cung cấp luận cứ để chính quyền địa phương xây dựng chính sách bảo tồn, phát triển đàn dê cỏ bản địa.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật toàn diện các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế:
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội huyện Định Hóa: Giáp Bắc Kạn, Tuyên Quang, Đại Từ, Phú Lương; có hệ thống núi Nản hiểm trở, nhiều cây thuốc nam quý; các chương trình xóa đói giảm nghèo của chính phủ cùng các tổ chức phi chính phủ ("Tầm nhìn thế giới", tổ chức Seeman/Hàn Quốc) đã hỗ trợ con giống và kỹ thuật cho người dân.
- Cơ sở khoa học về giải phẫu, sinh lý dinh dưỡng, tiêu hóa và sinh sản của dê; bảng chuẩn các chỉ tiêu sinh lý máu và lâm sàng; bảng sinh trưởng của các giống dê qua các tháng tuổi (dê Cỏ sơ sinh đạt 1,64 - 1,85 kg, 12 tháng đạt 15,2 - 19,7 kg; dê Bách Thảo sơ sinh 2,5 - 2,8 kg, 12 tháng đạt 26,4 - 35,6 kg; dê lai F1 Boer × Bách Thảo đạt 39,4 - 41,7 kg ở 12 tháng tuổi).
- Tình hình chăn nuôi trên thế giới: Dẫn số liệu FAO (tổng đàn toàn cầu năm 2013 đạt trên 1 tỷ con; năm 2009 châu Á chiếm 59,53% tổng đàn với 517 triệu con; Trung Quốc đứng đầu với 152 triệu con, Ấn Độ 126 triệu con; toàn cầu có 150 giống dê gồm 63% hướng sữa, 27% hướng thịt, 5% kiêm dụng).
- Tình hình chăn nuôi tại Việt Nam: Dẫn số liệu Cục Chăn nuôi năm 2016 (tổng đàn cả nước đạt 2.003 con dê - đơn vị bảng ghi nhận mức tăng trưởng từ 1.275 con năm 2014 lên 1.644 con năm 2015 và 2.003 con năm 2016, sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2016 đạt 21.142,20 tấn; miền Bắc chiếm 45,27% tổng đàn; Sơn La nuôi nhiều nhất miền Bắc với 250.568 con). Tổng kết kết quả nghiên cứu lai tạo dê thịt, dê sữa của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu:
- Chỉ tiêu phân bố và số lượng đàn dê trên 23 xã.
- Cơ cấu đàn theo tính biệt: tỷ lệ dê đực giống, tỷ lệ dê cái sinh sản, tỷ lệ dê con sơ sinh đến 6 tháng tuổi (đực và cái).
- Cơ cấu đàn dê cái sinh sản phân theo 3 nhóm tuổi: 6 - 12 tháng tuổi, 12 - 24 tháng tuổi, và trên 24 tháng tuổi.
- Cơ cấu nhóm giống: dê địa phương, dê núi, dê lai, dê ngoại.
- Đặc điểm ngoại hình, tỷ lệ các nhóm màu lông (đen tuyền, cánh gián, đen trắng, vàng nhạt, xám, màu pha tạp) và ghi nhận tập tính sinh học.
- Nêu rõ địa điểm nghiên cứu tại 23 xã của huyện Định Hóa và phương pháp xử lý số liệu bằng Microsoft Excel theo giáo trình của tác giả Nguyễn Văn Thiện (2008).
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chương 4 tập hợp toàn bộ dẫn liệu thực địa qua 5 bảng thống kê chính:
- Tình hình và quy mô chăn nuôi tại 23 xã: Tổng số 1.242 hộ điều tra có 720 hộ nuôi dê (57,97%), quản lý tổng đàn 9.368 con. Mật độ dê phân bố không đều giữa các xã. Các xã vùng núi Nản có đàn dê lớn nhất: Phượng Tiến (732 con), Trung Hội (667 con), Tân Thịnh (657 con), Kim Phượng (601 con). Xã có đàn dê ít nhất là Định Biên (118 con). Tỷ lệ hộ nuôi dê đạt 100% tại xã Linh Thông (27/27 hộ), đạt 96,67% tại Bảo Linh và 93,75% tại Phú Đình; thấp nhất là xã Bộc Nhiêu (15,88% - 47/296 hộ).
- Cơ cấu đàn theo tính biệt: Dê cái sinh sản có 4.148 con (chiếm 44,28% tổng đàn); dê con cái theo mẹ (sơ sinh - 6 tháng tuổi) có 3.035 con (32,40%); dê con đực nuôi thịt (sơ sinh - 6 tháng tuổi) có 1.349 con (14,40%); dê đực giống có 836 con (8,92%). Tỷ lệ cái sinh sản ở mức 44,28% nằm trong giới hạn hợp lý về mặt kỹ thuật chăn nuôi (dao động tối ưu từ 35% đến 60%).
- Cơ cấu đàn dê cái theo lứa tuổi (khảo sát trên 4.128 dê cái): Nhóm 12 - 24 tháng tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,60% (1.841 con); nhóm 6 - 12 tháng tuổi chiếm 28,21% (1.164 con); nhóm trên 24 tháng tuổi chiếm 27,19% (1.123 con). Phản ánh đàn dê đang ở độ tuổi sung sức, có tiềm năng tái đàn và tăng trưởng đàn cao.
- Cơ cấu giống dê: Dê địa phương (dê cỏ) chiếm ưu thế với 3.870 con (41,31%); dê lai chiếm 2.796 con (29,85%); dê núi chiếm 1.993 con (21,27%); dê ngoại (chủ yếu là Bách Thảo) chiếm tỷ lệ thấp nhất với 709 con (7,57%).
- Đặc điểm ngoại hình và màu sắc lông:
- Dê địa phương: Dê đực và cái phần lớn có sừng (chỉ 1 - 2% dê cái không sừng), sừng chĩa về sau và chếch sang hai bên; có râu cằm; mình ngắn, chân thấp, bụng to; sọc đen chạy dọc sống lưng và mặt trước 4 chân; khối lượng cái trưởng thành đạt 25 - 30 kg, đực trưởng thành đạt 30 - 45 kg.
- Dê lai (đực Bách Thảo × cái địa phương): Ngoại hình trung gian, tai bản cụp, khối lượng cái 37 - 42 kg, đực 42 - 48 kg.
- Dê ngoại (Bách Thảo): Sống mũi dô, tai to bản cụp, vóc dáng cao lớn; khối lượng cái đạt 40 - 45 kg, đực 50 - 60 kg; 60% có màu đen, 40% đen đốm trắng hoặc trắng đốm đen.
- Thống kê màu lông đàn dê huyện Định Hóa: Màu pha tạp/không đồng nhất chiếm 31,56% (2.957 con); màu cánh gián chiếm 26,18% (2.453 con); màu xám chiếm 12,80% (1.199 con); màu đen trắng chiếm 11,37% (1.065 con); màu vàng nhạt chiếm 10,07% (943 con); màu đen tuyền chiếm 8,02% (751 con).
- Tập tính sinh học ghi nhận tại thực địa: Đàn dê di chuyển tìm kiếm thức ăn 10 - 15 km/ngày; thích ăn lá búp non ở tầm cao 0,2 - 1,2 m; có khả năng ăn được các loại cây có độc tố nhẹ hoặc đắng mà gia súc khác tránh (lá ngón, lá xoan, lá gỗ sưa, chè đại); dê đực đầu đàn giữ vị trí duy nhất, bảo vệ đàn, dẫn đường và gọi cá thể lạc; tập tính ngủ nghỉ trên mỏm đá khô ráo, nhai lại khi nghỉ ngơi và ngủ; quản lý giao phối tự nhiên, người dân hạn chế cận huyết bằng cách đổi đực giống sau 1 năm hoặc luân chuyển giữa các hộ.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra 6 kết luận khẳng định thực trạng quy mô đàn dê Định Hóa (9.368 con/23 xã), tỷ lệ cơ cấu tính biệt hợp lý, sự chiếm ưu thế của giống địa phương và màu sắc lông phân ly đa dạng. Đề xuất hệ thống khuyến nghị thực hành kỹ thuật cho người chăn nuôi (chọn giống khắt khe, đổi đực giống định kỳ, ghi sổ phối giống, kỹ thuật phối giống 2 lần cách nhau 12 giờ trong vòng 24 - 36 giờ động dục, tránh ghép đực non với cái già) và đề xuất đối với UBND huyện Định Hóa (tập huấn kỹ thuật, tăng cường tuyên truyền phòng trị bệnh, hỗ trợ vốn vay).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp được bức tranh toàn diện và số liệu định lượng chi tiết về thực trạng ngành chăn nuôi dê tại huyện Định Hóa năm 2016. Dưới đây là các dữ liệu tổng hợp then chốt được trích xuất trực tiếp từ nghiên cứu:
| Chỉ tiêu khảo sát |
Số lượng (con) |
Tỷ lệ (%) |
Ghi chú từ văn bản |
| Quy mô tổng đàn dê toàn huyện |
9.368 |
100,00 |
Bình quân 407,30 con/xã (23 xã) |
| Cơ cấu đàn theo tính biệt |
|
|
|
| - Dê cái sinh sản |
4.148 |
44,28 |
Cao nhất: Phượng Tiến (377 con - 51,50%) |
| - Dê con cái theo mẹ (SS - 6 tháng) |
3.035 |
32,40 |
Cao nhất: Tân Dương (197 con - 38,18%) |
| - Dê con đực nuôi thịt (SS - 6 tháng) |
1.349 |
14,40 |
Cao nhất: Tân Dương (119 con - 22,16%) |
| - Dê đực giống |
836 |
8,92 |
Cao nhất: Tân Dương (92 con - 17,13%) |
| Cơ cấu đàn dê cái theo tuổi (n = 4.128) |
|
|
|
| - Dê cái 6 - 12 tháng tuổi |
1.164 |
28,21 |
Cao nhất: Trung Hội (39,72%) |
| - Dê cái 12 - 24 tháng tuổi |
1.841 |
44,60 |
Cao nhất: Sơn Phú (55,38%) |
| - Dê cái > 24 tháng tuổi |
1.123 |
27,19 |
Cao nhất: Kim Sơn (40,00%) |
| Cơ cấu nhóm giống dê |
|
|
|
| - Dê địa phương (dê Cỏ) |
3.870 |
41,31 |
Thích nghi cao, chịu kham khổ |
| - Dê lai (Bách Thảo × Cỏ) |
2.796 |
29,85 |
Nâng cao tầm vóc đàn con |
| - Dê núi |
1.993 |
21,27 |
Chăn thả chuyên trên vách đá |
| - Dê ngoại (Bách Thảo) |
709 |
7,57 |
Kén ăn, dễ mắc bệnh móng trên núi đá |
| Phân bố màu sắc lông (n = 9.368) |
|
|
|
| - Màu khác biệt / pha tạp |
2.957 |
31,56 |
Phản ánh lai tạp tự nhiên qua nhiều đời |
| - Cánh gián |
2.453 |
26,18 |
Màu lông truyền thống của dê Cỏ |
| - Xám |
1.199 |
12,80 |
|
| - Đen trắng |
1.065 |
11,37 |
|
| - Vàng nhạt |
943 |
10,07 |
|
| - Đen tuyền |
751 |
8,02 |
|
Khối lượng dê trưởng thành xác định theo từng nhóm giống:
- Dê địa phương: con cái đạt 25 - 30 kg, con đực đạt 30 - 45 kg.
- Dê lai: con cái đạt 37 - 42 kg, con đực đạt 42 - 48 kg.
- Dê Bách Thảo: con cái đạt 40 - 45 kg, con đực đạt 50 - 60 kg.
Đóng góp của tác giả so với các nghiên cứu trước:
- Đây là công trình đầu tiên thực hiện điều tra tổng thể trên quy mô toàn bộ 23 xã của huyện Định Hóa với cỡ mẫu khảo sát lớn (1.242 hộ, 9.368 con dê).
- Cung cấp dữ liệu chi tiết về tỷ lệ thành phần đàn dê cái sinh sản (44,28%) và lứa tuổi sinh sản (44,60% ở giai đoạn 12 - 24 tháng), chứng minh đàn dê của địa phương có cơ cấu sinh học lành mạnh, giàu tiềm năng mở rộng quy mô.
- Mô tả chi tiết tập tính sinh thái học và thói quen kiếm ăn của dê núi Nản, ghi nhận khả năng sử dụng các loại lá cây đặc thù (kể cả cây có độc tính như lá ngón, lá xoan) và tập quán luân chuyển đực giống 1 năm/lần nhằm chống giao phối cận huyết của các hộ dân bản địa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản khóa luận cho thấy một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu và điều kiện thực địa:
- Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào hình thức chăn nuôi quảng canh và bán quảng canh quy mô hộ gia đình; chưa tiến hành khảo sát các mô hình trang trại quy mô lớn hoặc thâm canh khép kín do địa phương chưa hình thành loại hình này.
- Nghiên cứu chưa đi sâu vào việc phân tích các chỉ tiêu sinh hóa máu, tỷ lệ tiêu hóa thức ăn tinh bổ sung hoặc định lượng năng suất sữa và chất lượng quầy thịt bằng phương pháp mổ khảo sát tại lò mổ.
- Thời gian theo dõi thực địa diễn ra trong 6 tháng (tháng 5 đến tháng 11 năm 2016), chưa phản ánh trọn vẹn biến động của đàn dê qua toàn bộ các mùa trong năm, đặc biệt là giai đoạn mùa đông giá rét vùng núi cao.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ nội dung văn bản:
- Nghiên cứu khẩu phần thức ăn bổ sung dựa trên nguồn phụ phẩm nông nghiệp sẵn có (bột ngô, sắn lát khô, khoai lang) kết hợp với chăn thả tự nhiên để nâng cao tốc độ tăng khối lượng của dê thịt.
- Theo dõi chuyên sâu về dịch tễ học và xây dựng quy trình tiêm phòng chuẩn cho bệnh viêm loét hoại tử móng ở đàn dê ngoại nuôi chăn thả trên địa hình núi đá.
- Xây dựng mô hình tuyển chọn và nhân giống thuần loài dê cỏ địa phương kết hợp với lai kinh tế có định hướng giữa đực giống Bách Thảo hoặc Boer với cái nền địa phương.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, và Phát triển nông thôn: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra khảo sát số lượng gia súc thực địa, phương pháp phân tích cơ cấu đàn theo tính biệt, lứa tuổi và nhận dạng ngoại hình giống.
- Cán bộ khuyến nông và cơ quan quản lý nông nghiệp huyện Định Hóa và tỉnh Thái Nguyên: Bảng dữ liệu 23 xã tại chương 4 là căn cứ thực tế để lập quy hoạch chăn nuôi dê vùng đồi núi, phân bổ chỉ tiêu hỗ trợ con giống từ các chương trình mục tiêu quốc gia và các tổ chức phi chính phủ.
- Người chăn nuôi và chủ trang trại gia súc nhai lại nhỏ: Học hỏi các chỉ dẫn kỹ thuật phối giống đúng thời điểm (18 - 36 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng động hớn), kinh nghiệm quản lý đực giống chống cận huyết và quy cách làm chuồng sàn thông thoáng, tránh ẩm ướt trên địa bàn miền núi.
Câu hỏi thường gặp
1. Xã nào tại huyện Định Hóa có tổng đàn dê lớn nhất và xã nào có tỷ lệ hộ nuôi dê đạt tuyệt đối?
Xã Phượng Tiến có tổng đàn dê lớn nhất huyện với 732 con (chiếm 7,81% tổng đàn), gồm 56 hộ nuôi trên 60 hộ điều tra (đạt 93,33%). Trong khi đó, xã Linh Thông có tỷ lệ hộ nuôi dê đạt tuyệt đối 100% (27 hộ nuôi trên 27 hộ điều tra), với tổng đàn là 276 con (chiếm 2,95%).
2. Cơ cấu đàn dê theo tính biệt tại huyện Định Hóa có đáp ứng yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi không?
Có. Toàn huyện có 4.148 con dê cái sinh sản, chiếm 44,28% tổng đàn. Tỷ lệ này nằm hoàn toàn trong khoảng tối ưu về mặt sinh học chăn nuôi (tiêu chuẩn quy định tỷ lệ dê cái hợp lý trong đàn dao động từ 35% đến 60%; nếu dưới 35% thể hiện tình trạng ứ đọng sản phẩm, nếu vượt quá 60% thì khả năng sinh sản của đàn suy giảm).
3. Khối lượng cơ thể của dê địa phương, dê lai và dê Bách Thảo trưởng thành tại Định Hóa chênh lệch như thế nào?
Dê địa phương có khối lượng trưởng thành đạt 25 - 30 kg ở con cái và 30 - 45 kg ở con đực. Dê lai (đực Bách Thảo × cái địa phương) đạt 37 - 42 kg ở con cái và 42 - 48 kg ở con đực. Dê ngoại Bách Thảo thuần có tầm vóc lớn nhất, đạt 40 - 45 kg ở con cái và 50 - 60 kg ở con đực.
4. Vì sao đàn dê ngoại chỉ chiếm 7,57% tổng đàn tại địa phương dù có tầm vóc và năng suất cao hơn?
Dê ngoại khó thích nghi với phương thức chăn thả leo trèo kiếm ăn trên các sườn núi đá hiểm trở của Định Hóa, khả năng di chuyển theo đàn kém và thường xuyên mắc các bệnh về móng. Do đó, người dân chủ yếu chỉ nuôi một số lượng nhỏ dê đực ngoại để làm đực giống lai cải tạo tầm vóc cho đàn dê cái địa phương.
5. Người chăn nuôi tại Định Hóa áp dụng biện pháp kỹ thuật nào để ngăn ngừa hiện tượng giao phối đồng huyết trong đàn dê?
Trong mỗi đàn chăn thả, người dân chỉ giữ duy nhất một con dê đực giống trưởng thành quản lý đàn; các dê đực con nuôi đến 6 tháng tuổi sẽ được bán thịt hoặc bán giống. Để triệt tiêu nguy cơ cận huyết, các hộ chăn nuôi chủ động thay thế đực giống định kỳ 1 năm một lần hoặc thực hiện trao đổi đực giống cho nhau giữa các hộ gia đình.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Quang Hùng đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về sinh học và tập tính của dê nhà, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ tại huyện Định Hóa năm 2016 qua mẫu điều tra 9.368 cá thể trên 23 xã. Kết quả nghiên cứu chứng minh đàn dê của địa phương duy trì cơ cấu tính biệt và nhóm tuổi sinh sản hợp lý, trong đó dê cỏ địa phương đóng vai trò hạt nhân nhờ khả năng chống chịu kham khổ và thích ứng cao với điều kiện sinh thái núi đá. Công trình cung cấp hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác, làm cơ sở khoa học để chính quyền địa phương và người chăn nuôi triển khai các giải pháp lai tạo giống, quản lý đực giống chống cận huyết và nâng cao hiệu quả kinh tế bền vững.