Chương 1. Phê phán một số quan điểm sai trái về năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam Chương 2. Thực tiễn thực hiện tính chính đáng của Đảng cầm quyền ở Việt Nam Chương 3. Định hướng và giải pháp nâng cao tính chính đáng của Đảng cầm quyền ở Việt Nam 7 Chƣơng 1 PHÊ PHÁN MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ NĂNG LỰC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1.
Phê phán một số quan điểm sai trái phủ nhận thành quả của Cách mạng tháng Tám năm 1945 về năng lực cầm quyền của Đảng Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, trang sử vàng trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, một bước ngoặt cách mạng chưa từng có trên con đường phát triển của dân tộc Việt Nam, đã làm nên một sự kiện “long trời, lở đất”, chính thức chấm dứt ách đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Từ đây, nhân dân Việt Nam đã thật sự làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Với ý nghĩa của thắng lợi vĩ đại đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc” [26, tr. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc [18].
Thực tiễn lãnh đạo của Đảng đã khẳng định rằng, một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng 8 viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ thì đảng có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo qua hai thời kỳ: 15 năm đầu (1930 - 1945) là thời kỳ chưa giành được chính quyền; 71 năm trở lại đây (1945 - 2021) là thời kỳ Đảng lãnh đạo nhân dân xóa bỏ được chính quyền thực dân, phong kiến để xây dựng chính quyền nhân dân, từ đó Đảng trở thành đảng cầm quyền. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tạo bước ngoặt cách mạng sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; là một chế độ xã hội mới mẻ hoàn toàn đối với dân tộc Việt Nam, hiện hữu đầy đủ bản chất dân chủ, nhân văn vì con người, vì hạnh phúc của nhân dân lao động. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là động lực mạnh mẽ cổ vũ toàn thể dân tộc Việt Nam kiên cường, bất khuất tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đưa nước ta phát triển để có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay.
Thành quả của Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ được nhân dân ta, Đảng ta nỗ lực phấn đấu để có được mà còn được bạn bè và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Ngay cả những chính phủ cựu thù với chúng ta trước đây cũng đã phải công nhận. Thế nhưng, vẫn có những luận điệu lỗi thời hòng phủ nhận thành quả đó. Có thể vạch ra tính chất lỗi thời của quan điểm phủ nhận thành quả Cách mạng tháng Tám năm 1945 trên các phương diện sau: Về phương pháp luận: họ đã sai lầm, khi không xuất phát từ thực tiễn, hoàn cảnh và điều kiện khách quan của lịch sử để xem xét, đánh giá thành quả của Cách mạng tháng Tám năm 1945 mà dựa vào phương pháp luận của xã hội học chủ quan.
Vì thế, họ đã không nhìn thấy quy luật vận động của lịch sử, cũng như tính tất yếu của một cuộc cách mạng nổ ra và giành thắng lợi, 9 mà sùng bái tự phát ngẫu nhiên của lịch sử cho nên họ giải thích thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 chỉ là “sự ăn may” của lịch sử. Mặt khác, họ không thấy được Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng xã hội, thuộc phạm trù cách mạng vô sản, được diễn ra ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nghèo nàn và lạc hậu, chưa qua giai đoạn phát triển TBCN. Đó là cuộc cách mạng tư sản dân quyền kiểu mới, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nó khác hoàn toàn về bản chất với các cuộc cách mạng tư sản trước đây. Mục tiêu của Cách mạng tháng Tám năm 1945 không dừng ở việc đập tan bộ máy chính quyền cũ, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân kiểu mới, mà sử dụng bộ máy chính quyền mới để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Với một phương pháp luận lỗi thời, lạc hậu họ chỉ nhìn thấy cái vẻ bề ngoài của cuộc cách mạng như là một sự “sang tên đổi chủ” từ chế độ “vua trị” sang chế độ “Đảng cầm quyền”, mà không thấy được bản chất sâu sắc, vĩ đại và tính chất triệt để của Cách mạng tháng Tám năm 1945, với tính cách là một cuộc cách mạng vô sản. Về phương pháp nghiên cứu: theo C. Mác “Không những kết quả của việc nghiên cứu, mà tất cả các con đường dẫn tới việc nghiên cứu, cũng phải là chân lý” [22, tr. Tức là phải có phương pháp đúng thì mới đưa đến kết quả nghiên cứu đúng.
Vậy phương pháp được họ sử dụng ở đây là gì? Dễ thấy rằng đó là phương pháp ngụy biện. Các quan điểm trên, thay vì đưa ra bằng chứng hoặc bất cứ điều gì để hỗ trợ lập luận của họ, thì họ chỉ biết lặp đi lặp lại quan điểm cuối cùng của mình là như vậy! Khi sử dụng phương pháp so sánh, họ cũng ngụy biện so sánh “ẩu” 1 giữa sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với sự cai trị của vua chúa phong kiến, giữa CNXH và chế độ phong kiến, để đánh đồng bản chất của hai chế độ xã hội hoàn toàn khác nhau này, nhằm 1 So sánh ẩu (faulty analogy) là một phương pháp của ngụy biện. 10 phủ nhận CNXH và con đường đi lên CNXH mà chúng ta đã lựa chọn, đang đi tới. Họ còn đánh tráo nguyên nhân với nguyên cớ, khi ngụy biện rằng “vì Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai” và “do khoảng trống quyền lực” nên “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới thành công nhanh chóng” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam [17].
Nếu chỉ là vậy thì tại sao một số nước thuộc địa của Nhật, có điều kiện và hoàn cảnh giống nước ta khi đó lại không thể làm cách mạng thành công ở nước họ, mà chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam làm được điều này? Rõ ràng, họ cố tình lờ đi, phủ nhận một nhân tố quan trọng, nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với những ngụy biện trên, họ kết luận vội vã, võ đoán, thiếu lô gic và không đúng rằng “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”. Cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ nội dung sai trái, lỗi thời của các quan điểm trên và khẳng định không thể phủ nhận thành quả của Cách mạng tháng Tám năm 1945, với các luận cứ sau đây: (1) Cách mạng tháng Tám năm 1945 không phải là sai lầm lịch sử, nó nổ ra và giành thắng lợi do Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng suốt lựa chọn con đường giải phóng dân tộc một cách đúng đắn. (2) Nếu không có Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta không thể có cơ đồ, vị thế, tiềm lực và uy tín quốc tế như hiện nay; nhân dân ta không có được địa vị người làm chủ như bây giờ.
(3) Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã xóa bỏ sự thống trị của thực dân, phát xít và phong kiến, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đó là một cuộc cách mạng thực sự, nó không chỉ biết 11 phá bỏ cái thể chế xã hội lỗi thời, lạc hậu, phản động, kéo lùi sự phát triển của dân tộc, mà quan trọng hơn, là biết kiến tạo, xây dựng xã hội mới chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. (4) Nguyên nhân vừa sâu xa, vừa trực tiếp dẫn đến hai cuộc kháng chiến của nhân dân ta, chính là bản chất hiếu chiến xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, chứ không phải một lý do nào khác, càng không phải do Cách mạng tháng Tám năm 1945. Còn nói rằng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam là một sự đổi trắng thay đen một cách trơ trẽn, một sự ngụy biện, bênh che cho các thế lực thực dân, đế quốc hiếu chiến và xâm lược.
(5) Phủ nhận thành quả Cách mạng tháng Tám năm 1945 đồng nghĩa với phủ nhận một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc Việt Nam; phủ nhận công lao, sự hy sinh xương máu của bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta; phủ nhận vai trò lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước, tính chính đáng cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do sự cố chấp, định kiến và thiếu nhạy bén về chính trị, nên các quan điểm trên đã tụt hậu, không theo kịp sự phát triển của nhận thức và thực tiễn đời sống chính trị trong nước và quốc tế hiện nay.