CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BÙ CÔNG SUẤT PHẢN KHÁNG TRONG LƯỚI PHÂN PHỐI 1. Yêu cầu giảm tổn thất điện năng trong lưới phân phối 1. Khái niệm tổn thất điện năng Tổn thất điện năng (TTĐN) là điện năng dùng để truyền tải và phân phối điện. Trong đó, tổn thất điện năng ∆A trên một lưới điện trong một khoảng thời gian T là hiệu giữa tổng điện năng nhận vào A nhận và tổng điện năng giao đi A giao của lưới điện trong khoảng thời gian T đó.
Tổng điện năng giao, nhận của lưới điện là tổng đại số lượng điện giao, nhận được xác định bởi hệ thống đo đếm điện năng tại các điểm ranh giới của lưới điện đó và tại nơi khách hàng sử dụng điện (các hộ tiêu thụ). Dựa theo quyết định số 288/QĐ-EVN-KTLĐ-KD&ĐNT ngày 18/02/2008 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.1) Thời gian xác định tổn thất điện năng thông thường là 1 năm (T=8760h). Phân loại tổn thất điện năng Tổn thất điện năng trên lưới điện bao gồm tổn thất kỹ thuật ∆A KT và tổn thất phi kỹ thuật ∆A PKT : ∆A = ∆A KT + ∆A PKT (1.2) Trong đó tổn thất kỹ thuật là lượng điện năng tiêu hao trên mạng lưới điện do tính chất vật lý của quá trình truyền tải điện năng, có thể chia thành 2 loại: - TTĐN phụ thuộc vào dòng điện (I2): lượng điện năng tiêu hao do phát nóng trên các phần tử khi có dòng điện đi qua. Tổn thất điện năng do phát nóng chủ yếu trên điện trở tác dụng của đường dây và các cuộn dây trong MBA.
Đây là hai thành phần chính của tổn thất kỹ thuật. - TTĐN phụ thuộc vào điện áp (U2): bao gồm tổn thất vầng quang điện, tổn thất do rò điện, tổn thất không tải của MBA, tổn thất trong mạch từ của các thiết bị đo lường. Trong đó tổn thất không tải của MBA là thành phần lớn nhất và có thể xác định thông qua số liệu của các TBA. 11 Tổn thất phi kỹ thuật là lượng điện năng tổn thất do nguyên nhân thuộc về quản lý, do hệ thống tính toán, đo đạc không hoàn chỉnh, sai số của các thiết bị đo, công tơ, do điện năng được đo nhưng không vào hóa đơn và không thu được tiền, do bỏ sót khách hàng.
Nó chỉ có thể giải quyết được bằng các biện pháp hành chính. Như vậy, để xác định tổn thất kỹ thuật, có 3 thành phần chính cần phải tính toán: TTĐN do phát nóng trên điện trở tác dụng của đường dây, do phát nóng trên điện trở tác dụng của các cuộn dây MBA (phụ thuộc vào dòng điện và có thể xác định dựa trên tính toán chế độ xác lập của lưới điện) và TTĐN trong lõi thép của các MBA (không phụ thuộc vào phụ tải và được xác định từ tổn thất công suất không tải). Lưới điện phân phối bao gồm lưới trung áp (từ 1kV đến 35kV) và lưới điện hạ áp (dưới 1kV). TTĐN trên lưới điện trung áp gồm tổn thất trên đường dây và trong trạm biến áp nối từ các trạm biến áp trung gian 110/220 kV đến các trạm biến áp phân phối.
TTĐN trên lưới điện hạ áp được xác định trên các đường dây từ trạm biến áp phân phối đến các công tơ đo đếm tại các hộ tiêu thụ trực tiếp. Các biện pháp giảm tổn thất điện năng Xét quá trình chuyển hóa năng lượng từ nguồn đến các hộ tiêu thụ gây nên lượng tổn thất điện áp ∆U trên các phần tử của mạng: PR + QX ∆U = .3) U Tổn thất công suất: P2 + Q2 ∆P = 2 .4) U Tổn thất điện năng: P2 + Q2 ∆A = ∆P.4) U Trong đó: 12 P, Q là công suất tác dụng, công suất phản kháng cực đại truyền tải trên mạng, kW, kVAr. U là điện áp ứng với công suất truyền tải P, Q, kV. R, X là điện trở, điện kháng của mạng, Ω.
τ là thời gian tổn hao công suất cực đại, h. Như vậy để giảm tổn thất điện năng có thể giảm P, Q, R hay tăng U. Tuy nhiên P là công suất tác dụng là công suất yêu cầu cần phải đáp ứng của phụ tải, không thể giảm được. Có thể giảm R bằng cách xây dựng thêm các lưới, tăng tiết diện dây truyền tải trong quá trình thiết kế.
Cách này đòi hỏi vốn đầu tư cao. Có thể tăng U truyền tải, cách này áp dụng trong quá trình thiết kế, đối với các lưới đang vận hành việc tăng U đòi hỏi phải cải tạo lại toàn bộ lưới điện và vấp phải vấn đề kinh tế. Việc giảm công suất phản kháng Q truyền tải trên đường dây là một biện pháp tốt. Có thể thực hiện bằng việc đặt các thiết bị bù trên đường dây.
Các thiết bị bù thường không quá đắt, có thể áp dụng vào các lưới đang vận hành, có thể bù tại phụ tải hay bù trên đường dây. Tuy nhiên việc bù công suất phản kháng cũng gặp phải những khó khăn nhất định như xác định dung lượng bù, vị trí bù, phải cân đối giữa tính kinh tế và kỹ thuật để bù có hiệu quả. Bài toán bù kinh tế tổng quát 1. Bù kinh tế công suất phản kháng.
Bù công suất phản kháng có thể có 2 loại: Bù kỹ thuật (bù cưỡng bức): được thực hiện chủ yếu ở các xí nghiệp công nghiệp để đảm bảo cosφ luôn ở mức cho phép. Cách này nhằm làm giảm yêu cầu công suất phản kháng của phụ tải, đảm bảo cân bằng công suất phản kháng trong hệ thống. Khi hệ thống điện thiếu công suất phản kháng thì việc bù kỹ thuật là bắt buộc. Bù kinh tế: đặt bù công suất phản kháng trong hệ thống điện để giảm tổn thất công suất và tổn thất điện năng nâng cao hiệu quả kinh tế của lưới.
13 Bù kinh tế không thể tách rời hoàn toàn bù kỹ thuật, vì bù kinh tế là giảm nhẹ bù kỹ thuật và hai loại bù này cần được phối hợp với nhau tạo thành một thể thống nhất làm lợi cho toàn hệ thống, đó là mục tiêu của bài toán bù tối ưu công suất phản kháng. Lợi ích khi đặt bù: - Giảm được công suất tác dụng yêu cầu ở chế độ max của hệ thống diện do đó giảm được dự trữ công suất tác dụng hoặc tăng độ tin cậy của hệ thống. - Giảm được tổn thất điện năng. - Cải thiện được chất lượng điện áp.
- Giảm nhẹ tải cho máy biến áp trung gian và đường trục trung áp giảm được yêu cầu công suất phản kháng, tăng tuổi thọ cho thiết bị. - Chi phí khi đặt bù: - Vốn đầu tư và chi phí vận hành cho trạm bù. - Tổn thất điện năng trong tụ bù. Giải bài toái bù công suất phản kháng là xác định: số lượng trạm bù, vị trí đặt của chúng trên lưới phân phối, công suất bù và chế độ làm việc của tụ bù sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Bài toán bù tổng quát Bài toán bù tối ưu công suất phản kháng là xác định công suất và vị trí đặt các thiết bị bù nhằm mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế cực đại khi thỏa mãn tất cả các điều kiện kỹ thuật trong chế độ làm việc bình thường của mạng điện. Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế là các chi phí quy đổi, các yêu cầu kỹ thuật là các hạn chế về độ lệch điện áp, khả năng mang tải của các phần tử trong mạng điện và công suất của các thiết bị bù. Một số giả thiết trong bài toán bù Mô hình bài toán bù tối ưu công suất phản kháng là một mô hình phức tạp, có nhiều yếu tố động. Để có thể xây dựng mô hình và giải bài toán, một số giả thiết được đưa ra : 14 Với lưới phân phối có nhiều trục chính, việc thay đổi công suất phản kháng tại một nút bất kỳ trên trục chính này ảnh hưởng không đáng kể đến việc thay đổi công suất phản kháng tại các nút trên trục chính khác.
Chỉ khi các cụm tụ bù được lắp rải trên lưới phân phối mới đạt được hiệu quả kinh tế Giá trị của hệ số công suất cosφ là giá trị trung bình (ở thời điểm cực đại) và giả thiết không đổi trong suốt quá trình tính toán. Điện áp lưới cũng được coi là không đổi. Tính chất của phụ tải (τ) như nhau ở mọi nút. Giá của các thiết bị bù được lấy tỷ lệ thuận với công suất của chúng, các hệ số kinh tế khác được coi là không đổi (không phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế - xã hội khác) trong thời gian tính toán.
Lợi ích thu được từ việc lắp đặt tụ bù là như nhau trong suốt thời gian vận hành. Hàm mục tiêu: Mục tiêu chính của bài toán bù tối ưu là cực đại hóa lợi ích thu được khi đặt thiết bị bù, bao gồm các lợi ích thu được trừ đi chi phí đặt bù. Hàm này phải đạt giá trị cực đại : F = B – C - C ΔQ max, [đồng/năm] (1.15) B là lợi ích thu được do giảm tổn thất điện năng so với trước khi đặt bù.16) C Δ là giá 1 kWh tổn thất điện năng, lấy bằng giá bán điện trung bình, đ/kWh. DA là độ giảm tổn thất điện năng so với trước khi đặt bù, kWh.
DA phụ thuộc vào cấu trúc lưới, đồ thị phụ tải công suất phản kháng, cấu trúc trạm bù : số lượng, vị trí, chế độ vận hành tụ bù. C là chi phí hàng năm của việc lắp đặt tụ bù + Vốn đầu tư cho 1 trạm bù : V bj = k 0j + k b (Q b ).17) 15 + Vốn đầu tư cho n trạm tụ bù : n n V = ∑ Vbj = ∑ (k oj + k b (Qb ).18) j =1 j =1 k 0j là thành phần chi phí cố định của một trạm bù k b (Q b ) là giá đơn vị công suất tụ bù, là hàm phụ thuộc công suất bù, là hàm phi tuyến, rời rạc của Q b. + Tổng chi phí tính trong một năm : C = p.19) Với p là hệ số được xác định : p = a tc + k vh + k kh (1.20) a tc = 1/T n là hệ số thu hồi vốn đầu tư tiêu chuẩn. T n là thờig ian thu hồi vốn đầu tư tiêu chuẩn, năm.
k vh , k kh là hệ số vận hành và hệ số khấu hao thiết bị, thường lấy theo phần trăm vốn đầu tư (bao gồm cả xây lắp và thiết bị). Để đơn giản ta có thể viết : k b (Q b ) = k b = hằng số.21) C ΔQ là chi phí cho tổn thất điện năng trong thiết bị bù : C ΔQ = C Δ .