Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn 1. Khái niệm về tín dụng, tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn - Khái niệm về tín dụng Theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 thì tín dụng được hiểu như sau: “Tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”[15]. Như vậy có thể nhận thấy, về thực chất tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hoá từ người cho vay chuyển sang người đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với người cho vay với lượng giá trị lớn hơn ban đầu.
Tín dụng được cấu thành nên từ sự kết hợp của ba yếu tố chính là: lòng tin (sự tin tưởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của người cho vay đối với người đi vay); thời hạn của quan hệ tín dụng (thời gian người vay sử dụng tiền vay) và sự hứa hẹn hoàn trả. - Khái niệm về tín dụng ngân hàng “Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng với bên đi vay là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế, trong đó Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán”[4]. Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động ngân hàng là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ nên tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng chủ yếu là dưới hình thức tiền tệ. Tuy nhiên trong một số c 7 hình thức tín dụng, như cho thuê tài chính thì tài sản trong giao dịch tín dụng cũng có thể là các tài sản khác như tài sản cố định.
- Khái niệm về phát triển nông nghiệp, nông thôn “Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một quá trình thay đổi có chủ ý về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương” [13]. - Khái niệm về tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn “Tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn là tất cả các hoạt động tín dụng của ngân hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống của nông dân, cư dân ở nông thôn”[13]. Mục tiêu của hoạt động tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là đáp ứng đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả nguồn vốn cho nhu cầu phát triển toàn diện lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân nông thôn. Đặc điểm của tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn Hoạt động tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn có các đặc điểm cơ bản sau đây: - Về đối tượng cho vay Các tổ chức được thực hiện cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm: + Các tổ chức tín dụng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng; + Các tổ chức tài chính quy mô nhỏ, thực hiện việc cho vay các món tiền nhỏ cho người nghèo và các đối tượng khác trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo quy định của pháp luật; + Các ngân hàng, tổ chức tài chính được Chính phủ thành lập để thực hiện việc cho vay theo chính sách của Nhà nước.
c 8 - Về đối tượng vay vốn Các tổ chức, cá nhân được vay vốn để phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn bao gồm: + Cá nhân, hộ gia đình cư trú trên địa bàn nông thôn hoặc có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; + Hộ kinh doanh hoạt động trên địa bàn nông thôn; + Chủ trang trại; + Tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trên địa bàn nông thôn hoặc tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; + Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn, ngoại trừ các đối tượng: doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, doanh nghiệp khai khoáng, các cơ sở sản xuất thủy điện, nhiệt điện, các doanh nghiệp cung cấp vật tư nông nghiệp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm, phụ phẩm nông nghiệp nằm trong khu công nghiệp, khu chế xuất. - Về các lĩnh vực cho vay + Cho vay các chi phí phát sinh phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm nông nghiệp từ khâu sản xuất đến thu mua, chế biến và tiêu thụ. + Cho vay phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại và cung ứng các dịch vụ trên địa bàn nông thôn. + Cho vay để sản xuất giống trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, trồng rừng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất nông nghiệp.
+ Cho vay phát triển ngành nghề tại địa bàn nông thôn. + Cho vay phục vụ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. + Cho vay các nhu cầu phục vụ đời sống của cư dân trên địa bàn nông thôn. c 9 + Cho vay theo các chương trình kinh tế liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ.
- Một số đặc điểm khác + Do chi phí hoạt động cao khi các ngân hàng cho vay món nhỏ lẻ tín dụng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, nếu không có số lượng chi nhánh rộng lớn thì một số các ngân hàng thương mại cũng ngại cho vay trong lĩnh vực này, thường chỉ cho vay đoạn giữa và cuối là thu mua và chế biến sản phẩm. Vì vậy, nhu cầu tín dụng để đầu tư cho sản xuất ban đầu thực sự bất lợi đối với người dân. + Các mặt hàng vay theo truyền thống đòi hỏi vay phải có thế chấp, trong khi đối với các sản phẩm, công trình của nông dân thì tài sản thế chấp không cao vì không có tài sản thế chấp hoặc nhiều tài sản có giá trị nhưng lại chưa có sổ đỏ.
Vì vậy rất nhiều người dân không nhận được khoản vay truyền thống. Do đó, để người dân tiếp cận dễ dàng hơn với các khoản vốn vay, các ngân hàng xem xét các điều kiện khác có thể đảm bảo thế chấp để vay vốn như: tài sản trên đất, tài sản hình thành từ vốn vay. + Lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thường được đánh giá là rủi ro cao (thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường), lợi nhuận thấp hơn các khu vực khác. Do đó, các doanh nghiệp bảo hiểm không mặn mà với lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp vì nhiều yếu tố rủi ro từ điều kiện tự nhiên khách quan (hạn hán, thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh) và từ trình độ năng lực quản lý của chính hộ vay, cũng như vì còn chưa đủ các chính sách khuyến khích, hỗ trợ cần thiết cho hoạt động này.
+ Các sản phẩm tín dụng của các tổ chức tín dụng cung cấp cho khu vực nông nghiệp, nông thôn chủ yếu là các sản phẩm truyền thống như cho vay theo món, cho vay hạn mức và cho vay tài trợ dự án. Các sản phẩm tín dụng chuyên biệt cho khu vực nông nghiệp, nông thôn thường được nhắc đến chỉ gồm cho vay lưu vụ, cho vay thu mua nông sản. Bên cạnh đó, hình thức cho vay qua tổ nhóm còn mang nặng tính hình thức, sự liên kết giữa các thành c 10 viên trong nhóm không cao và trách nhiệm của nhóm trưởng chủ yếu chỉ là đại diện. Vai trò, nguyên tắc của tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn 1.
Vai trò của tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn Hoạt động tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng đối với các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cụ thể là: - Nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Trong giai đoạn 2011-2015, dư nợ cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên toàn quốc chỉ chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 18% tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế. So với mức tăng tín dụng chung của toàn bộ nền kinh tế thì tín dụng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn còn thấp. Thực tế cho thấy, chính sách tín dụng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Quy mô nguồn vốn cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn nhỏ và thấp so với nhu cầu của người dân.
Nông dân vẫn khó tiếp cận nguồn tín dụng để phát triển, mở rộng sản xuất. Trong khi đó, những năm gần đây, vấn đề tái cơ cấu ngành nông nghiệp được Đảng, Nhà nước quan tâm đặc biệt. Song, để tái cơ cấu ngành nông nghiệp, cần có một lượng vốn lớn; trong đó, nguồn vốn tín dụng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Do đó, để đáp ứng nhu cầu về vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 06 năm 2015 về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Góp phần thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là giải pháp chủ yếu, quan trọng và có tính chiến lược để thực hiện thành công Nghị quyết 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X về phát triển nông nghiệp, c 11 nông dân, nông thôn. Đây là một chương trình khung toàn diện nhất để cộng đồng chung sức xây dựng nông thôn mới, trong đó, huy động nguồn lực thực hiện là vấn đề rất được quan tâm.