CHƯƠNG I Các triết lý đó nằm ngay trong văn hóa, chúng không tách rời mà gắn chặt với văn hóa theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp, trong cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần. Chúng hoà vào văn hóa và là một yếu tố cấu thành căn bản có ý nghĩa quyết định chiều sâu của văn hóa. Ở một góc độ nhất định, có thể nói, các triết lý ấy chính là lớp trầm tích cô đọng của văn hóa dân tộc. Tuy không phải là toàn bộ nền văn hóa, nhưng chúng là yếu tố cốt lõi tạo nên chất lượng của nền văn hóa, làm cho văn hóa phong phú và sâu sắc hơn.
Mặt khác, chính văn hóa dân tộc là nguồn sữa bất tận nuôi dưỡng và phát triển các triết lý. Quy mô, cường độ và năng lực lao động của một dân tộc càng lớn, nền văn hóa càng phát triển thì càng làm cho các triết lý của họ phong phú, sâu sắc, đa dạng, toàn diện, thể hiện đời sống con người và xã hội đầy đủ hơn. Sự phát triển của văn hóa dân tộc cung cấp chất liệu cho sự xuất hiện, tồn tại và phát triển các triết lý. Theo chiều ngược lại, các triết lý lại có tác dụng định hướng và thúc đẩy các hoạt động, hành vi và giao tiếp của con người, theo hướng có văn hóa, sáng tạo, mở rộng và phát triển văn hóa.
Các triết lý là những khuôn mẫu, định hướng và do vậy, là cơ sở trực tiếp cho sự phát triển tiếp theo của văn hoá. 16 Chương II KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ ĐẠO HỒI VÀ SỰ DU NHẬP CỦA HỒI GIÁO VÀO DÂN TỘC CHĂM Ở AN GIANG 1. Khái quát về lịch sử đạo Hồi 1. Nguồn gốc ra đời Hồi giáo Người sáng lập ra đạo Hồi là Mohammed (570 – 632), là người thành phố Mecca, thuộc vương quốc Ả Rập.
Từ bé, Mohammed mồ côi cha mẹ và phải làm việc trong nghề buôn bán. Năm hai lăm tuổi ông làm việc cho bà góa phụ giàu có và sau đó lấy bà ta làm vợ. Từ đó, ông có cuộc sống dễ chịu hơn và ông có điều kiện để suy nghĩ nhiều hơn về các vấn đề dân tộc của ông. Mohammed thấy bất mãn với tôn giáo của bộ tộc của ông.
Ông thấy họ quá mải mê với việc kiếm tiền, thường xuyên đánh nhau, căm thù nhau và làm những chuyện tàn bạo ích kỉ. Ông phản ứng mạnh mẽ với những bất công xã hội và những tục lệ vô đạo đức mà tôn giáo đó cho phép người ta làm. Mohammed nghe nói người Do Thái giáo và người Thiên Chúa giáo chỉ tin vào một Thượng đế duy nhất. Ông bắt đầu tìm hiểu và nghiền ngẫm về những tôn giáo đó.
Ông cũng đã được nghe rằng, vị Thượng đế đó đã thần khải về Ngài và những chân lý của Ngài cho người Do Thái và Thiên Chúa giáo qua các đấng tiên tri. Ả Rập khi đó còn là một bộ lạc khá lạc hậu và mỗi bộ lạc đều có những thần thánh riêng của mình và được thờ dưới hình thức là những pho tượng, hòn đá và cây cối. Thành phố Mecca là một trung tâm thương mại có vai trò rất quan trọng với người Ả Rập. Thành phố này thu hút rất nhiều người hành hương.
Nó thiêng liêng thần thánh vì đây chính là nơi trú ngụ của rất nhiều vị thần đa thần giáo. Đây cũng là nơi đặt hòn đá thiêng mà người ta cho là được mang từ trên trời xuống. 17 Bộ tộc của Mohammed sinh sống tập trung ở Mecca. Vì trong các đền thờ của bộ tộc có các tượng thần và có cả người ở nơi khác thờ phụng, nên chúng trở thành vùng thánh địa hành hương của nhiều bộ tộc láng giềng.
Trong số đó có một ngôi đền tên là Kaaba nằm ở trung tâm thành phố, được nhiều khách hành hương đến viếng, và do đó nó mang lại cho bộ tộc của ông rất nhiều lợi lộc từ các bộ tộc khác. Trong thời đại của Mohammed, vùng cận đông là bãi chiến trường của sự đối đầu về kinh tế, chính trị giữa ba siêu cường thời đó: đế chế Byzantine và đế chế Ethiopia theo Thiên Chúa giáo, còn đế chế Ba Tư theo đạo Do Thái. Họ là kẻ thù truyền kiếp của nhau. Ở một tình thế như vậy, xứ Ả Rập trở thành một vùng đất tranh giành ảnh hưởng của các thế lực ngoại bang.
Các thương nhân ở thành phố Mecca hiểu rằng sự giàu có của họ không được phụ thuộc quá vào phe nào. Nhiều người còn hiểu rằng tôn giáo của các siêu cường này “ưu việt” hơn tôn giáo đa thần của họ. Họ thấy cần có một học thuyết mới và một nền đạo đức mới, chúng vừa thỏa mãn các giá trị vụ lợi, nhấn mạnh đến trách nhiệm cá nhân mà vẫn giữ được sự thống nhất trong dân tộc Ả Rập. Tôn giáo độc thần của các siêu cường kia đã đáp ứng được yêu cầu đó.
Nhưng tôn giáo của người Ả Rập cũng cần phải độc lập về chính trị với các hệ tư tưởng kia. Nhưng dù vậy họ vẫn thiếu một nhân vật lãnh đạo tôn giáo là người Ả Rập, một người có thể thể hiện những mối quan tâm về quốc gia cũng như về tinh thần chung của những người Ả Rập. Hoàn cảnh lịch sử đó đã tác động mạnh đến tư tưởng của Mohammed. “Vào năm 611, Mohammed bắt đầu trải nghiệm sự kiện khác thường khi đang một mình cô độc suy ngẫm, bỗng nhiên ông thấy như là Thượng đế triệu gọi để trở thành một tiên tri của Ngài.
Một bóng tối thần bí bao trùm lên ông, rồi hình bóng lấp lánh của thượng đẳng thiên thần Gabriel hiện ra và đọc cho ông nghe những lời lẽ mà ông vẫn nhớ như in ở trong đầu. 18 Những lời lẽ này trước hết là nói về sự duy nhất của Thượng đế. Ngài ghét cay ghét đắng việc thờ thần tượng và sẽ đến ngày Ngài phán xét thế giới với ngọn lửa và nỗi sợ hãi. Thượng đế này kêu gọi toàn thể loài người hãy tuân phục và chấp nhận sự ngự trị tuyệt đối của Ngài.
Mohammed còn được thần khải nhiều lần nữa trong suốt những năm còn lại của cuộc đời ông”. [ 12;22] Đầu tiên, Mohammed không tin vào những gì đã xảy ra với ông nhưng một số bạn bè, người thân của ông đã cổ vũ cho ông tin vào những thần khải này. Ông đã truyền lại những thần khải ấy cho người thân và sau đó rao giảng những tư tưởng nhân từ, phê phán việc thờ phụng thần tượng. Ông cũng phát biểu chống lại cung cách kiếm tiền bằng cách cho vay nặng lãi đối với những người nghèo khó, hoạn nạn.
Trong mười năm đầu (611 – 621), ông kêu gọi người dân hãy nghe theo lời dạy của Thượng đế nhưng không mấy ai quan tâm. Và những quan điểm nhiệt thành của ông có vẻ như là mối đe dọa đối với việc thờ thần tượng đang rất sinh lợi nên họ rất căm ghét ông. Trong lúc Mohammed rao giảng những lời của Thượng đế, những người có thế lực ở Mecca đầu tiên thì thờ ơ nhưng sau đó thì họ chống đối ra mặt, thậm chí còn tìm cách sát hại ông. Vì thế, ông và những người tin theo ông phải rời Mecca trốn đến Yathrib, thành phố phía bắc Mecca, ông truyền đạo ở đây và thu được nhiều kết quả nên đổi tên thành phố này thành Medina ( tức là thành phố của nhà tiên tri).
Chuyến đi này của ông vào năm 622 đã đánh dấu sự bắt đầu vận động dân chúng trên quy mô lớn. Chính ở Medina, Mohammed có điều kiện để củng cố tôn giáo của ông và phát triển nó lên rất nhanh. Quá trình này đã thể hiện rõ ông là thủ lĩnh có tài và trở thành một lãnh tụ tôn giáo và chính trị. 19 Trong khi ở Madina tôn giáo của Mohammed phát triển rất mạnh thì ở Mecca vẫn tiếp tục chống đối lại tôn giáo mới của ông.
Mục tiêu sâu kín của Mohammed là biến Mecca trở thành thủ đô thiêng liêng của đạo Hồi. Năm 630, ông cùng các tín đồ đã hành quân tiến chiếm Mecca đập bỏ hết các thần tượng thờ phụng ở đó, biến nó thành đền thờ Thượng đế, đền Kaaba trở thành trung tâm thờ phụng của Hồi giáo từ ngày đó. Năm 632, Mohammed qua đời, sứ mệnh tôn giáo của ông đã hoàn thành, những tư tưởng của ông nói ra đã trở thành tôn giáo mới đoàn kết toàn bộ dân tộc Ả Rập lại với nhau. Mohammed đã trở thành một vị anh hùng.
Sau khi Mohammed mất những khải thị mà ông ban bố đã được thu thập lại thành kinh Koran và nó trở thành Thánh kinh của đạo Hồi cho tới bây giờ. Quá trình truyền bá đạo Hồi tuy bước đầu gặp nhiều thăng trầm. Song những giáo lý của đạo Hồi vẫn được truyền bá rộng rãi trong nhân dân. Như vậy, sự khai sinh và phát triển của đạo Hồi đã trải qua một quá trình rất gian nan.
Từ thánh địa Mecca đạo Hồi đã có mặt ở hầu hết các nơi trên thế giới. Với vai trò vừa như một thế lực thần quyền, vừa như một thế lực chính trị, Hồi giáo đã và đang làm sống lại phần nào cái cảm giác năng động xưa kia về sự thống nhất của các dân tộc rất khác nhau đi theo đức tin của Mohamed. Hiện nay hơn một tỷ người trên trái đất gắn bó với niềm tin của đạo Hồi. Hồi giáo sinh sau đẻ muộn nhất nhưng cũng phát triển nhanh nhất trong số ba tôn giáo chiếm vị trí hàng đầu trên thế giới là Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Phật giáo.2 Sự du nhập của Hồi giáo vào Vương quốc Chămpa 20 Đạo hồi do Mohamed khai sáng ở bán đảo Ả Rập vào đầu thế kỷ VII, là tôn giáo ra đời muộn hơn đạo Bàlamôn, đạo Phật nhưng sức lan toả và ảnh hưởng rất lớn, rất mau chóng trên khu vực và trên thế giới.
Nhiều nhà sử học cho rằng: thế kỷ X đã có dấu vết của Hồi giáo ở vương quốc Chămpa. Nhưng đó là những người ngoại quốc, có lẽ là những thương nhân ở khu vực Trung Đông đến Chămpa buôn bán, sinh sống chứ không phải người Chăm bản địa Thế kỷ XIV Hồi giáo mới có điều kiện trở lại Chămpa bằng nhiều con đường khác nhau như thông qua ngoại thương đường biển hoặc đường truyền giáo tràn xuống phía Nam theo đường bộ. Như vậy cũng có thể ở thế kỷ XIII-XIV hoặc trước đó, ở Chămpa đã có một công đồng thương nhân Ả Rập Hồi giáo đến làm ăn, sinh sống.[ 6;17] Đến thế kỷ XVI hoàng cung của xứ Nam Chăm chuyển vào đóng ở Bình Thuận. Hồi giáo vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển trong cộng đồng người Chăm.