Chương 1 – Nghị định của Chính phủ số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/09/ 2006 TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN CAO HỌC KINH TẾ HỌC K16 – UEL 10 1.2 Định nghĩa phát triển kinh tế vùng Theo GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân, phát triển kinh tế vùng là sự phát triển kinh tế nhằm thúc đẩy và bảo đảm sự phát triển cân đối, bền vững của đất nước, có tính đến các yếu tố đặc thù và cơ hội của toàn lãnh thổ và của từng vùng, giảm bớt những khác biệt giữa các vùng, không phải bằng cào bằng, kìm hãm nhau, mà bằng bảo tồn và phát huy những đặc tính riêng về môi trường tự nhiên, văn hóa và tiềm năng phát triển của các vùng. Có thể thấy, mục tiêu cơ bản của phát triển kinh tế vùng là nhằm cải thiện nền kinh tế theo từng khu vực địa lý nhất định, tìm ra cách để làm thế nào một nền kinh tế nhỏ có thể được phát triển và cải thiện, gia tăng sự thịnh vượng, và lợi ích của sự phát triển đó có thể được chia sẻ cho tất cả mọi người.3 Cơ sở hình thành vùng kinh tế Vùng kinh tế hình thành trên cơ sở tổng hợp nhiều yếu tố. Một số yếu tố tạo vùng phổ biến thường được sử dụng để phân chia vùng kinh tế là: Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ: Là yếu tố tạo vùng cơ bản nhất.Một vùng kinh tế được biểu hiện bằng sự tập trung các loại hình sản xuất riêng biệt trên một lãnh thổ nhất định, bằng sự chuyên môn hoá sản xuất của dân cư dựa vào những điều kiện và đặc điểm phát triển sản xuất đặc thù.
Các vùng kinh tế thông qua các mối liên hệ kinh tế, liên kết với nhau trong một hệ thống phân công lao động theo lãnh thổ thống nhất. Yếu tố tự nhiên: Bao gồm các yếu tố đất đai, khí hậu, khoáng sản, và các nguồn tài nguyên khác. Ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên, vĩnh viễn tới quá trình phát triển và phân bố sản xuất và do đó ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành vùng kinh tế. Yếu tố cơ sở hạ tầng: TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN CAO HỌC KINH TẾ HỌC K16 – UEL 11 Bao gồm các trung tâm công nghiệp, thành phố lớn, các cơ sở sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp quan trọng, cơ sở giao thông vận tải.
Quan hệ kinh tế đối ngoại: Mở rộng các quan hệ kinh tế và thương mại với nước ngoài. Nói một cách khác, đẩy mạnh xuất nhập khẩu cũng có ảnh hưởng đến sự hình thành, quy mô và mức độ chuyên môn hoá của các vùng kinh tế. Yếu tố khoa học công nghệ: Tiến bộ của KHCN ảnh hưởng tới quá trình hình thành vùng kinh tế trên nhiều mặt, cho phép cải tạo các vùng đất xấu hoặc đầm lầy thành những vùng canh tác, tạo nên những vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hoá quan trọng. Yếu tố dân cư, dân tộc: Nguồn lao động xã hội, đặc biệt là nguồn lao động có chất lượng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành vùng kinh tế.
Mỗi dân tộc sẽ có những tập quán sản xuất và tiêu dùng khác nhau. Tập quán sản xuất đã hình thành và tích luỹ lâu đời của dân bản địa tạo nên những ngành sản xuất chuyên môn hoá với những sản phẩm độc đáo. Yếu tố lịch sử, văn hoá: Các vùng mà chúng ta nghiên cứu hiện nay là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài về lịch sử, văn hoá, xã hội.4 Mục tiêu phát triển kinh tế theo vùng Nhìn chung, ở hầu hết các quốc gia, phát triển kinh tế vùng thường nhằm thực hiện những mục tiêu sau: Đảm bảo phát huy lợi thế từng vùng. TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN CAO HỌC KINH TẾ HỌC K16 – UEL 12 Tiếp tục thúc đẩy phát triển nhanh các vùng thông qua tăng cường tính tập trung kinh tế và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại các vùng.
Thúc đẩy liên kết kinh tế vùng. Giảm dần tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền. Giải quyết cơ bản việc làm cho những người trong độ tuổi lao động cần có việc làm và tiến tới xoá bỏ hộ nghèo. Xây dựng xã hội văn minh, đảm bảo tốt các nhu cầu cung ứng điện, nước, đi lại, thông tin liên lạc cho dân cư ở các đô thị hạt nhân và nâng mức sống của dân cư ở khu vực nông thôn vượt mức trung bình cả nước, bảo vệvà cải thiện môi trường sinh thái, giảm hẳn các tệ nạn xã hội.
Bảo đảm kỷ cương, trật tự an toàn xã hội và giữ vững an ninh quốc phòng 1.5 Thành tố của phát triển kinh tế vùng Ở một số nước thuộc Thế giới thứ 3 trước đây, các chiến lược phát triển kinh tế vùng đã hình thành từ rất sớm, khoảng những năm 1950-1970, với những nội dung cụ thể như: Liên kết phát triển giữa thành thị và nông thôn. Giảm khoảng cách thu nhập giữa các vùng, các địa phương. Đô thị hóa nông thôn và xóa bỏ sự nghèo nàn. Tái cơ cấu xã hội thông qua việc tạo nhiều cơ hội việc làm và phân phối lại quyền sở hữu tài sản.
Chuyển đổi nền kinh tế từ công nghệ thấp sang công nghệ chất lượng cao bằng cách tăng cường sử dụng các tiến bộ của khoa học. Phát triển nguồn nhân lực và hoạt động xuất khẩu. TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN CAO HỌC KINH TẾ HỌC K16 – UEL 13 Phát triển cơ sở hạ tầng vì cho rằng sự phát triển này có liên hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế của vùng (Fan và Zhang, 2004) 4. Phát triển tất cả các nguồn lực tại vùng cả về số lượng lẫn chất lượng.6 Tác động của phát triển kinh tế vùng 1.1 Tác động tích cực Trong quá trình hình thành và phát triển, các vùng kinh tế đã phát huy lợi thế, thu hút đầu tư phát triển, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ c ấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, và không chỉ tạo ra động lực thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế quốc dân theo chiều hướng tích cực mà còn góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong vùng cũng như các khu vực lân cận, giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập cho dân cư, xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế.
Mỗi một địa phương sẽ có một số thế mạnh và hạn chế đặc thù so với các địa phương khác, tạo ra những lợi thế so sánh nhất định trong quá trình phát triển kinh tế. Liên kết nội vùng và liên vùng vừa hỗ trợ các địa phương phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu vốn có, vừa đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong quản lý, điều hành trên toàn vùng, tạo ra sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, công nghệ, nhân lực, đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô, tránh tình trạng tranh giành nhà đ ầu tư, tranh giành dự án, sản phẩm tương đồng khắp mọi nơi. Phân vùng là cách thức để chính phủcó sự phân bổ nguồn lực phù hợp, thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi đầu tư thích đáng hơn cho vùng nhiều khó khăn.2 Tác động tiêu cực 4 Shenggen Fan và Xiaobo Zhang. Infrastructure and regiona economic develop ment in rural China.
China Economic Review, Tập 15 (2004), tr. 203-214 TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN CAO HỌC KINH TẾ HỌC K16 – UEL 14 Ở một số quốc gia, sự phát triển kinh tế theo vùng thường gây ra những tác động tiêu cực như: Phát triển công nghiệp “ồ ạt”, không đồng bộ, cơ cấu thiếu hợp lý; công nghiệp hóa chưa đi đôi với hiện đại hóa. Thiếu sự đầu tư nhất định cho sản xuất nông nghiệp về công nghệ giống, công nghệ chế biến, công nghệ bảo quản, … dẫn đến năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm thấp, sức cạnh tranh không cao, thất thoát sau thu hoạchlớn. Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp với nhu cầu của xã hội do những bất cập trong quy ho ạch đô thịnên đang ngày càng quá tải.
Tình trạng tàn phá tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm nguồn nước và vấn đề xử lý rác thải rắn đang ngày càng nóng bỏng.2 Phát triển kinh tế vùng bền vững 1.1 Định nghĩa phát triển bền vững Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với hàm ý rằng "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái". Kể từ đó, ngoài định nghĩa thường được sử dụng nhất do Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WECD) đưa ra vào năm 1987 "Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng phát triển của các thế hệ tương lai", cũng đã có rất nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa phát triển bền vững. Trong số các định nghĩa này, hầu hết đều coi phát triển bền vững như một khái niệm hàm chứa cả hai khía cạnh, đó là phát triển (làm cho tốt hơn) và bền vững TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN CAO HỌC KINH TẾ HỌC K16 – UEL 15 (bảo tồn) (Bell và Morse, 2003; tr. Bản thân ý nghĩa của cụm từ phát triển bền vững đã đại diện cho tất cả các nhân tố và yếu tố sống gắn liền với hoạt động của con người.
Thêm vào đó, quá trình toàn cầu hóa đã tác động mạnh, gây ra sự thay đổi về môi trường, dẫn đến việc cần có sự chú ý đến vấn đề bền vững (Auty và Brown, 1997) 6. Vì vậy, phát triển bền vững là một khái niệm nhằm chỉ việc tạo ra sự cân bằng giữa ba trụ cột của sự phát triển là kinh tế, xã hội (vốn con người và vốn xã hội) và môi trường ( Hrebik, Trebicky và Gremlica, 2006)7 .