Chương 1. GIỚI THUYẾT NHỮNG VÁN ĐÈ CHUNG VÈ TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC CHỮ HÁN VÀ NGỮ PHÁP HÁN VĂN. “Trong chương này, chúng tôi ình bày một số li huyết có liên quan đến để di, tạo tiền đ cho sự trién khai các chương tiếp theo. Chương tập trung vào ba vẫn đề gồm: Một là Hán văn Việt Nam dưới góc độ song ngĩĩ nhằm chỉ ra sự cần thiết cận các tác phẩm văn học chữ Hán thông qua nguyên tác (văn bản chữ Hán) Hai la V2 vige minh giải các tác phẩm vấn học chữ Hún, chúng tôi lần lượt trình bay các công đoạn, thao tác cần thực hiện trong việc minh giải một văn bản Hán văn bắt kỉ Ba là Vấn để ngữ pháp Hán văn liên quan, tình bày một số điềm về mặt ngữ pháp mà người học và nghiên cứu tác phẩm thơ chữ Hán cần chú ý khi xử lí văn bản tác phẩm “Chương 2.
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHÂU ĐOẠN CƠ BẢN KHI TỈ CAN TAC PHAM VĂN HỌC CHỮ HÁN “Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bây thực trạng tiếp cận tác phẩm văn học chữ Hán ở đối tượng người học chủ yếu lả học sinh trường phổ thông qua tình. hình các tác phẩm văn học chữ Hán được đưa vào chương trình phố thông nói chung, ‘va ba bộ sách giáo khoa mới nói riêng, từ đó triển khai một số nội đung cằn lưuý khi 9 địch thuật và bình giảng các ác phẩm thơ chữ Hán. Kế đến là triển khai một số khâu đoạn cơ sở, cơ bản để tiếp cận hi quả tác phẩm văn học chữ Hán. Các khâu đoạn này tương ứng với ba cấp độ, đi từ đơn vị nhỏ đến lớn gằm: p cận cấp độ chữ, sân cấp độ từ ngữ và tiếp cận cấp độ câu, “Chương 3.
ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC CHỮ HÁN DỰA TRÊN CƠ SỞ NGỮ PHÁP “Trong chương nảy, chúng tôi tập trung so sánh cách tiếp cận, diễn giải nội dung. ‘van bản thông qua một số tác phẩm thơ chữ Hán cụ thể (sử dụng ngữ liệu có trong. sách giáo khoa). Qua các ví dụ mình họa ấy, chúng tôi làm rõ ưu điểm cũng như hiệu quả của phương pháp so với cách dịch thuật, bình giảng ó phần chủ quan, truyển thông thông thường.
Cuối cùng là để xuất ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy với một sé kiến nghị kèm theo để phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học chữ Hản trên phương diện ngữ pháp có thể phát huy được hiệu quả tối ưu 0 CHUONG 1 GIGI THUYET NHONG VAN DE CHUNG VE TIEP CAN TAC PHẨM VĂN HỌC CHỮ HÁN VÀ NGỮ PHÁP HÁN VĂN Nằm trong vùng lan tôa của khu vực văn hóa đồng văn, Việt Nam cũng như Trung “Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam có nhiễu thuận lợi khi nghiên cứu và dịch thuật các tức phẩm thơ chữ Hán. Thời gian qua, Việt Nam cũng đã có không ít cúc công tình để cập đến Hán văn Việt Nam nói chung và tác phẩm văn học chữ Hán nói dêng. Những công trình ấy đã góp phần quan trọng cho công tác nghiên cứ giải thích thực thể Hán văn Việt Nam, cũng như bước đầu tìm ra những nét riêng biệt của đối tượng này, đồng thời đóng góp những góc nhìn mới, phương thức mới cho việc iếp nhận và diễn giải các tác phẩm văn học chữ Hán.1 Hán văn Việt Nam nhìn từ góc độ song ngữ. Khái niệm "song ngữ" (bilingtalism) được giải thích là "hiện tương có hai huy nhiều hơn hai ngôn ngữ được sử dụng trong xã hội” (Hoàng Tuệ, 3009: 58): "Song ngữ {bilingualism): Trong xã hội học, hiện tượng sử dụng hai (hay hơn hai) ngôn ngữ ở một cá nhân hay ở một công đằng ngôn ngữ, cõ khi cũng gọi là đa ngữ (muitlingualism) (Diệp Quang Ban, 2010: 437): hay “Sie nh thông hoàn hảo như nhau hai ngôn ngữ, sc sắm vững hai ngôn ngữ được sử dụng trong những điều Kiện giao tiếp thúc nhau, như ưôn ngữ mẹ để va ngôn ngữ văn học”, (Nguyễn Như Ý, 1991, 248).
“Thông qua hai nẻo đường du nhập vào Việt Nam là con đường truyền khẩu và con đường văn tự chính thức thông qua giáo đục, chữ Hán đã giúp người Việt ta ghi chép thành văn những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến đời sống vật chất và nh thần của dân tộc mình, Đẳng thời, không thể phủ nhận rằng, chữ Hán làm xuất hiện và tr thành phương tiện ghỉ chép, lưu trữ, sóp nhật những điều liên quan đến ác lĩnh vực khác nhan trong đời sống như lịch sử, văn hóa, xã iáo dục V. của nước tá Vào triều đại Tây Đường (khoảng S81 ~ 907), vương triều phong kiến Trung Quốc thực hành chế độ khoa cử ở vùng Giao Chỉ, nhằm tuyển chọn và đảo tạo lớp Nho sinh. Vua Đường cho mở rộng trường học ở "An Nam” để truyền bá Nho giáo, Đạo giáo, thông quacác kì thí tuyển tiến sĩ đẻ chọn nhân tài. Chế độ khoa cử ấy đã kích thích.
" sự học hành dài mài kinh sử của nhiều thể hệ người Việt. Nhờ vào chế độ khoa cử ấy, iệc học và dạy chữ Hán đã trở thành nhu cầu thực sự trên vùng đất Giao Chỉ. Chữ Hán từ chỗ chỉ bổ hẹp trong phạm vi sử dụng của ng lớp sĩ đại phụ và quan trường, đã dẫn dồn mở rộng ra tong dân gian. Tác giả Lê Đình Khan, trong cuốn Từ vựng gác Hán trong tiẳng Việ,, cho rằng chính gii đoạn nàyẳ “chữ Hán cũng với Nhơ giáo đã cắm rễ xuống vững đất phía Nam này.
Nó trở thành chữ viết chính thức của toàn bộ cự dân sống trên tắt Giao Chỉ. Trên đất Giao Chỉ thời kỉ này đã có hiện tượng song ngữ, vừa sử dụng. tiổng Việt vu sử đơng từng Hán. Nhưng ch có chữ H là ch viế (được sử dụng chính thức.
Vì vậy, đứng về mặt ÌÝ luận tiếp xúc ngôn ngữ mà nói, thì đây là đợi tiếp xúc quan trong nhất giữa tiễng Việt và trắng Hắn" (Lê Đình Khẳn, 2010: 39). Nó tạo một dâu ấn sâu sắc nhất trong suốt quá trình lịch sử phát triển của tiếng Việt cho đến tận ngày may Kết quả của đợttiếp xúc này là tiếng Việt đã thu nhận vào hệ thống từ vụng cũa mình một loạt từ và chữ Hán mà cho đến ngày nay vẫn có quan hệ đối ứng chặt chẽ cũng như tính hệ thống về âm đọc. Đến sau năm 939, Việt Nam về cơ bản đã thoát khỏi ách đô hộ của. phong kiến phương Bắc, khiến cho tiếp xúc giữa người Việt và người Hán giảm sút.
Tuy nhiên, văn hóa liên vẫn được coi trọng bởi giai cấp phong kiến thống ị, và vì thể ngôn ngữ văn tự Hán luôn được xem là ngôn ngữ quan phương. Chữ Hán vẫn là một công cụ «quan trọng để ban bổ sắc lệnh, truyỄn bả tư trởng và in tức. Lực lượng tri thức vẫn sử dụng chữ Hán để t sách và làm thơ, Cư như thị chữ Hắn đã thúc đẩy nền văn học cỗ điển Việt Nam phát triển và gặt được nhiều thành tựu to lớn. Ngôn ngữ văn tự Hán vào.
tiếng Việt được chọn lọc và đi theo khuynh hướng Việt hóa trên mọi phương diện như âm, nghĩa và pham vi sử dụng. Bên cạnh đó, cũng không thể phủ nhận chữ Hán đã có những hạn chế, tạo ra một số khô khăn nhất định cho học tập và sử dụng. chữ Hán khó nhận biết. khó viết khó nhớ và cũng chưa thể chuyên chữ hết nội vốn phong phú, da dạng của người Việt ta thì chữ Nôm ra đời được sử dụng ở mọi lĩnh vục đời sống, có khả năng, chuyển tải đầy đủ mọi thông tin đến với người đọc.
Chính vì sự phân hóa sâu sắc trong, của Nho gia cũng như giai cắp phong kiến, nên đã có sự phân cáp rõ rột giữa Hán văn chính thống và văn tự Nôm. Sự ra đời của chữ Nôm là một chuyển mình của ngôn ngữ dân tộc, trở thành loại văn tự kí âm đầu tiên, ghi lại lời ăn ụ tiếng nói dân tộc, mã trong đồ đã du nhập lượng lớn ngôn ngữ gốc Hán có thể hình dung cqua sơ đỗ sau đây: “Từ vựng tếng Việt “Từ vựng vay mượn (ngoại lại) Việt (Kinh), | Gic khác Gốc Hán Mường, Phá mị i (Am) na~ Khmer Môn Anh,. Minin Viet || in in Vigt Nea, Hậu Hán. Truyền Việt khẩu sinh CO Han || Han Vier Tiếp xúc Suy Viet | Vigt Hoa phương phông ngữ So dé thé hign vị trí của từ vựng gốc Hắn (đơn vị gốc Hán) trong hệ thông từ vựng.
tiếng Việt Khi nhận xét về vấn đề "Hán văn Việt Nam dưới góc độ song ngủ”, tác giả Phạm Van Khoải cho rằng “Việc dạy, học và sử dụng ngôn ngữ thứ hai xt từ góc độ song ngữ túy thụ vào các nhân tổ gồm tiếng me đẻ, ngôn ngữ cầu học, cần vắt. Hai điểm xuất phát này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đổn việc hy dụng các vẫn bản của ngôn ngữ thứ hai (được xây dựng trên nền iên ngữ này”. Tác giả cũng thể hiện sự tác động và liên kết đó, nếu xét các nhân tổ ấy trong môi trường song ngữ Việt ~ Hán thông qua sơ đồ sau: B "Văn ngôn gốc (Văn ngôn Trung Quốc) (Ngôn ngữ vay mượn) Hn văn Việt Nam, Sơ đồ thể hiện không gian liên ngữ của song ngữ Việt (Phạm Văn Khoải, 1997) Sơ đồ trên cho thấy yếu tổ trong môi trường song ngữ Việt ~ Hán có các môi quan. hệ chặt chếvới nhau tạo nên không gian liên ngữ.
Không gian lên ngữ Việt~ Hán sẽ chỉ phối khả năng sử dụng chữ Hán của người Việt Nam ở tắt cả các cắp độ (nhất là ở các cắp độ từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp. Cổ thể nói đầy là một không gian lộng” chứ không. nh 'Động” trong mối quan hệ giữa các yêu tổ là quan hệ, là ảnh hưởng của tiếng Việt đối với tiếng Hán. Đồng thời, ở ngay bản thân mỗi một yếu tổ cũng có tính động riêng của mình, bối chúng là những thực thể ngôn ngữ rất đa dụng Không hiễu ính động” ở từng ếu tổ của phúc thể các yêu tổ tạo nên không gian liên ngữ, chúng ta sẽ không hiểu những nót chuyên biệt của Hán văn ở từng thời ki, từng phong cách.
Hán văn Việt Nam cũng biểu hiện “nh động” ấy và có thé qua Hán văn Việt Nam, phần nào chúng ta còn biết được tình hình của Hân văn nói chung, các tác phẩm văn học chữ Hán nổi riêng. Xét ở khía cạnh văn tự, rõ rìng dù cho người Trung Quốc có thể đọc và hiểu được, nhưng bản thân Hán văn (văn ngôn) được dùng trong các bài thơ cổ ở Trung Quốc và Việt Nam ngày trước đã có sự khác biệt rõ rột với bạch thoại (văn ty ma Trung Quốc sử đụng hiện my).