chương 1, tác giả làm rõ nội dung trọng tâm là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trong quá trình tiếp biến văn hóa Phật giáo của người Việt. Cơ sở lý luận tác giả luận văn sử dụng bao gồm những thuật ngữ cơ bản có liên quan trực tiếp đến đề tài, đặc điểm, vai trò của đối tượng nghiên cứu để xác định vai trò của đối tượng ấy trong nền văn hóa dân tộc nói chung cũng như trong phạm vi nghiên cứu đề tài này nói riêng. Cơ sở thực tiễn là những điều kiện tiền đề cho Phật giáo có điều kiện du nhập và tiếp biến vào văn hóa Việt Nam. Một số thuật ngữ cơ bản Thuyết khuếch tán văn hóa Trong trước khi hình thành các trường phái chính của thuyết “khuếch tán văn hóa” trong nhiều công trình nghiên cứu, các nhà bác học Âu - Mỹ đã đề cập tới cái gọi là “Thiên di”, “lan tỏa” (A.
Bradford), “mô phỏng” (G. để giải thích hiện tượng tương đồng văn hóa. Có thể coi đó là những ý tưởng phôi thai tạo tiền đề cho thuyết “khuếch tán văn hóa”. Phải tới những năm 90 của thế kỷ XIX, đặc biệt là những thập kỷ đầu XX thì thuyết này mới phát triển tột đỉnh và hình thành những trường phái chính.
Ngày nay, trong quan niệm của các nhà nghiên cứu Mác xít, người ta quan niệm truyền bá luận như là một khuynh hướng của nhân học tư sản, giải thích các đặc điểm văn hóa giống nhau ở các dân tộc khác nhau bằng “truyền bá” văn hóa từ một trung tâm. Truyền bá luận giải thích sự phát triển của các nền văn minh, văn hóa không phải là sự tiến hóa độc lập, mà cơ bản hoặc thậm chí chỉ bằng những sự vay mượn các thành tựu văn hóa hay bằng các cuộc thiên di của các dân tộc (A. Tuy nhiên 14 trong thuyết “khuếch tán văn hóa”, các trường phái khác nhau giải thích hiện tượng tương đồng văn hóa không phải hoàn toàn đồng nhất, mà giữa chúng có sự khác nhau về quan niệm lý thuyết cũng như xem xét các hiện tượng văn hóa cụ thể. Như vậy, khuếch tán văn hóa đó là sự lan tỏa của văn hóa dẫn tới sự tác động của văn hóa tới đời sống xã hội trong phạm vi một quốc gia, hoặc giữa nền văn hóa của quốc gia này đối với nền văn hóa của quốc gia khác.
Ratsel - một trong những học giả tiêu biểu cho trường phái văn hóa - lịch sử, cũng là người xây dựng cơ sở tư tưởng đầu tiên cho lý thuyết này: cần phải xem xét tất cả vấn đề của con người trong mối quan hệ của nó với môi trường tự nhiên. Trong môi trường tự nhiên, sự di chuyển của các cộng đồng người và văn hóa của họ là không có ranh giới. Ông coi sự tiếp xúc và truyền bá các thành tựu văn hóa là thuộc tính cơ bản của văn hóa. Ông cũng nêu ra phương thức lan truyền, đó là: a) Lan truyền toàn bộ văn hóa từ cộng đồng này sang cộng đồng khác hay còn gọi là hỗn dung văn hóa (acculturation) và b) Lan truyền hay dịch chuyển từng yếu tố văn hóa riêng lẻ theo những hình thức khác nhau từ điểm cư dân này sang điểm cư dân khác [34, tr.
Vùng văn hóa Để nhận thức về vùng và phân vùng văn hóa, trong công trình nghiên cứu này tác giả luận văn sử dụng khái niệm cơ bản, đó là “vùng văn hóa” (hay vùng văn hóa - lịch sử): vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện 15 trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác [34, tr. Với những quan niệm về lý thuyết như vậy, trong phạm vi đề tài này, tác gỉa luận văn áp dụng để xem xét trường hợp cụ thể giữa Việt Nam với khu vực Đông Nam Á. Đông Nam Á vừa được sử dụng để gọi một khu vực địa lý hành chính, vừa để chỉ một khu vực văn hóa - tộc người. Bởi đây là hai lĩnh vực khác nhau nên phạm vi khu vực Đông Nam Á cũng được quan niệm không hoàn toàn giống nhau.
Những đặc trưng nổi bật của văn hóa Đông nam Á: cư dân sinh sống trong khu vực bị chi phối bởi hệ thống khí hậu nhiệt đới, gió mùa, các cư dân Đông Nam Á đã sáng tạo nên những nền văn hoá tộc người và địa phương đa dạng, phong phú trên cơ tầng chung của văn hoá nông nghiệp. Họ chủ yếu sống bằng lúa gạo, với 2 hình thức canh tác: ruộng nước và nương rẫy; thuần dưỡng trâu, bò làm sức kéo; các bộ công cụ lao động và các hệ thống thủy lợi, dựa theo nguyên lý tự chảy của dòng nước được xây dựng hết sức đa dạng phù hợp với các môi trường sinh thái thành ở đồng bằng, vùng thung lũng chân núi, vùng sườn dốc. Một bộ phận cư dân Đông Nam Á rất thạo các nghề trong môi trường sông nước, họ đánh bắt cá và các loài thủy hải sản khác trên sông, trên các hồ và đầm phá cũng như ở các vùng biển gần bờ. Nhiều ngành nghề thủ công như: dệt nhuộm (lụa và các loại coton, sợi bả, sợi chuối, sợi dứa…), đan lát, làm gốm, sơn mài, điêu khắc gỗ, kim hoàn.
rất phát triển. Đây là khu vực đa dạng các hình thức trình diễn dân gian như rối bóng, rối nước; âm nhạc truyền thống và các loại nhạc cụ rất gần gũi với thiên nhiên. Tập quán ở nhà sàn rất phổ biến ở khắp nơi. Giá trị gia đình, tinh thần kính trọng người già được đề cao, tổ tiên được coi trọng; truyền thống cộng đồng làng (bản) bền chặt.
Trên nền tảng của những tín ngưỡng dân gian bản địa như vật linh giáo, các nghi lễ nông 16 nghiệp, thờ phụng tổ tiên, shaman giáo… tiếp thu thêm Hindu giáo, Phật giáo, Islam giáo, Ki tô giáo…làm cho đời sống tâm linh khu vực hết sức đa dạng và phong phú. Việc thực hành các tín ngưỡng cùng với sự đa sắc màu của các lễ hội làm cho bức tranh văn hóa khu vực có bản sắc riêng biệt. Quá trình tiếp nhận lâu dài ảnh hưởng văn hóa từ Ấn Độ, Trung Hoa, thế giới Ảrập và châu Âu càng làm gia tăng tính đa dạng, tính năng động, sáng tạo về văn hoá và tôn giáo ở Đông Nam Á. Tuy vậy, những đặc điểm chung và sự tương đồng vẫn được tiếp nối, tạo bản sắc chung cho khu vực.
Tiếp xúc và tiếp biến văn hóa “Tiếp biến văn hóa” là một khái niệm, một thuật ngữ khoa học được các nhà dân tộc học phương Tây sử dụng đầu tiên vào khoảng năm 1880. Trong vài thập kỷ qua, đã có hàng trăm công trình được xuất bản đề cập đến tiếp biến văn hóa, với cũng chừng ấy những định nghĩa khác nhau, được bổ sung và mở rộng, nhưng không loại trừ nhau. Hai nội dung cơ bản của khái niệm này là: “tiếp xúc” và “biến đổi” về văn hóa. Nhưng cách hiểu khác nhau là ở chỗ: biến đổi như thế nào và nhất là những đối tượng tiếp xúc văn hóa ở đây là những đối tượng nào? Lúc đầu, những chủ thể thường được xét đến ở tầng vĩ mô: hai (hoặc nhiều) khu vực, quốc gia.
Dần dần, những chủ thể đó được mở rộng đến tầng vi mô, như vùng miền, cộng đồng, nhóm người rồi đến cấp độ từng cá nhân. Giao lưu và tiếp biến văn hóa là khái niệm không còn mới mẻ trong giới nghiên cứu văn hóa hiện nay, hiện tượng ấy được hiểu là quá trình tiếp nhận có chọn lọc và xảy ra khi những nhóm người (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau cho phù hợp với văn hóa bản địa tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc cả hai nhóm, sau một thời gian biến đổi tiếp thì chúng trở thành văn hóa ngoại sinh. Giao lưu văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng. Ở đó có 17 sự kết hợp giữa các yếu tố "nội sinh" với yếu tố "ngoại sinh" tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn.
Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể. Quá trình này luôn đặt mỗi dân tộc phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố "nội sinh" và "ngoại sinh". Từ đây có thể khẳng định rằng quá trình giao lưu văn hóa chỉ là điều kiện cần, phải có thêm quá trình tiếp biến văn hóa là điều kiện đủ để làm phong phú thêm, mạnh thêm nền văn hóa bản địa, nâng nó lên tầm cao phát triển chung của văn hóa thế giới. Đặc trưng của ca dao - tục ngữ - Ca dao Trong ca dao, đại đa số là tác phẩm trữ tình.
Ca dao là loại trữ tình của văn học dân gian. Khái niệm trữ tình dân gian được hiểu trong sự đối lập với khái niệm tự sự dân gian ở góc độ loại hình. Ðối tượng của nó là những sáng tác phản ánh hiện thực đời sống không phải thông qua cốt truyện, sự xung đột của hành động nhân vật mà thông qua sự thể hiện tâm trạng các nhân vật trữ tình. Về chức năng: Ca dao là những bài ca về lịch sử.
Ca dao lịch sử nói đến lịch sử bằng một thứ ngôn ngữ trực tiếp. Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân. Ca dao phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống, phản ánh đời sống tình cảm nhân dân; ca dao trước hết là tiếng hát về tình yêu của con người, đây là một tình cảm phong phú và rộng lớn. Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ có nội dung phản ánh được mọi biểu hiện của tình cảm lứa đôi trong tất cả những chặng đường của nó.
Một 18 bộ phận bài ca này còn mang thêm ý nghĩa xã hội, những bài ca nói đến sự trắc trở trong tình yêu đôi lứa. Ca dao trữ tình thể hiện rất phong phú những biểu hiện của tình cảm gia đình: tình cảm vợ chồng, tình cảm cha mẹ và con cái, tình cảm anh em. phản ánh nhiều mặt đời sống tình cảm của nhân dân.