Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN (1802-1883) VÀ HOẠT ĐỘNG ĐÚC TIỀN, QUẢN LÍ TIỀN TỆ TRƯỚC THẾ KỈ XIX Ở VIỆT NAM Cách đây hơn 215 năm, triều Nguyễn - triều đại cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam được thành lập. Với 143 năm tồn tại (1802-1945), triều đại này đã để lại nhiều dấu ấn mang đặc trưng riêng trên phần lớn các di sản truyền lại cho thế hệ sau. Tình hình đặc biệt của đất nước cuối thế kỉ XVIII đầu thế XIX, đòi hỏi triều Nguyễn, vua Gia Long sau khi lên ngôi (1802) phải có những chính sách để củng cố và phát triển đất nước sau những năm tháng chiến tranh liên miên, kinh tế bị trì trệ, sa sút, xã hội rối ren, tệ nạn xã hội xuất hiện ngày một nhiều… Yêu cầu cấp thiết của lịch sử đặt lên vai của những vị vua đầu triều Nguyễn, Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức, phải có những quyết sách đúng đắn để giải quyết các vấn đề đặt ra. Tổng quan về triều Nguyễn (1802-1883) 1.
Tình hình chính trị Vào năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, làm chủ cả nước, chúa Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế), “nơi trung độ” của đất nước. Các vua Gia Long (1802-1819), Minh Mệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883) kế tiếp nhau tổ chức lại bộ máy nhà nước, ban hành các chính sách kinh tế, củng cố quân đội nhằm ổn định xã hội, giữ vững quyền thống trị và đối phó với những tác động bên ngoài. Ngay từ buổi đầu, triều đình triều Nguyễn đã hướng mọi cố gắng và trí lực vào việc thiết lập cơ sở vững chắc cho triều đại mới, đồng thời khắc phục những hậu quả sau chiến tranh. Trải qua nhiều thế kỉ loạn lạc, chia cắt lãnh thổ Nam, Bắc không chỉ nảy sinh dị biệt về kinh tế, xã hội mà còn xuất hiện sự “li tán” trong lòng người.
Nếu vùng Nam Trung Bộ còn thương nhớ Tây Sơn thì lòng dân Bắc Hà còn mang nặng tư tưởng “hoài Lê vọng Trịnh”. Giới sĩ phu Bắc Hà chưa sẵn sàng hướng theo triều Nguyễn, nhiều cuộc nổi dậy liên tiếp nổ ra. Trong khi đó, đội ngũ công thần khai quốc quen trận mạc 10 chinh chiến chưa có kinh nghiệm tổ chức quản lý đất nước. Để đối phó với tình hình phức tạp đó, vua Gia Long đã chấp nhận một sự phân quyền tạm thời ở hai trấn Bắc thành và Gia Định thành.
Tình trạng này kéo dài cho đến năm 1831-1832 vua Minh Mệnh đã ra quyết định bỏ Bắc thành và Gia Định thành, chia cả nước thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên. Mỗi tỉnh đều có Tổng đốc, Tuần phủ cai quản cùng hai ti, hoạt động theo sự điều hành của triều đình. Các phủ, huyện, châu, tổng, xã vẫn giữ như cũ. Nếu như ở buổi đầu, vua Gia Long cho tạm giữ các đơn vị dinh, trấn cũ và chia cả nước ra làm ba khu vực.
Ở miền Trung, nơi đặt kinh đô do triều đình trực tiếp quản lí, ở miền Bắc (Bắc thành) và miền Nam (Gia Định thành) do Tổng trấn đứng đầu quản lí. Bắc thành và Gia Định thành được xem như triều đình thu nhỏ, tuy nhiên vẫn phải phục tùng đối với triều đình trung ương. Đó là chế độ trung ương tản quyền nhằm ổn định tình hình đất nước sau một thời gian dài bị nội chiến và chia cắt [62, tr. Sau cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mệnh thì chế độ trung ương tản quyền đã được thay thế bằng chế độ trung ương tập quyền.
Có thể thấy, bộ máy hành chính nhà nước từ Gia Long đến Minh Mệnh dù là chế độ trung ương tản quyền hay chế độ trung ương tập quyền đều do Hoàng đế tổ chức và quyết định mọi công việc. Từ thời Gia Long đến cải cách của Minh Mệnh, bộ máy nhà nước có sự chuyển đổi rõ rệt, thể hiện xu hướng quân chủ tập quyền cao độ, từ đội ngũ quan lại xuất thân võ quan chuyển sang truyền thống trọng văn, từ đơn giản cho đến hoàn bị và ổn định. Sự chuyển biến này có ảnh hưởng lớn đến chính sách tuyển chọn, trọng dụng, đãi ngộ quan lại của vua. Bên cạnh đội ngũ quan lại nhà nước, các vua triều Nguyễn còn quan tâm đến việc củng cố lực lượng quân đội để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, đời sống của nhân dân và mở rộng lãnh thổ.
Số lượng quân lính dưới triều Nguyễn có chiều hướng tăng, thường xuyên được huấn luyện và cung cấp trang thiết bị hiện đại. Thời Gia Long, Bộ Binh có 115.000 người, Thủy binh có 17.600 người, 200 chiến hạm, 500 chiến thuyền, có súng bắn đá và đại bác ở mũi thuyền; 100 thuyền buồm lớn [26, tr. Thời Minh Mệnh, năm 1838, tổng số các thứ lĩnh là 212.250 người [60, tr. Về pháp luật, để thực hiện quyền lực nhà nước, quy định hoạt động của các cơ quan thực thi công vụ, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người thực thi công vụ, triều Nguyễn đã quan tâm đến việc xây dựng một bộ luật chung và ban hành nhiều loại văn 11 bản pháp luật để điều chỉnh mối quan hệ này.
Trên cơ sở tham khảo bộ Đại Thanh luật lệ nhà Thanh và bộ Quốc triều hình luật thời Lê, năm 1815 vua Gia Long cho ban hành Hoàng Việt luật lệ áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước và có hiệu lực lâu dài. Như vậy đến đầu thế kỉ XIX, triều Nguyễn đã hoàn thành việc thống nhất đất nước trên cả hai mặt lãnh thổ và hành chính, mở ra một kỉ nguyên độc lập mới cho dân tộc Việt Nam. Trong kỉ nguyên ấy, nó vừa tồn tại những cơ hội cũng như những thách thức để đưa đất nước phát triển hùng mạnh. Tình hình kinh tế - xã hội Về nông nghiệp, triều Nguyễn ra sức chấn chỉnh lại chế độ công điền, như đo đạc lại ruộng đất, lập sổ đinh và sổ điền, phục hồi chính sách quân điền với quy định mới là 3 năm quân cấp một lần.
Để mở rộng công điền, triều Nguyễn đã tấn công một bước vào sở hữu ruộng đất tư nhân qua việc thực hiện cuộc cải cách điền địa ở Bình Định nhưng không thành công, tiến hành đánh thuế trở lại đối với ruộng đất tư, cấm chủ sở hữu ruộng đất tư không được bỏ hoang (bỏ hoang sẽ bị mất quyền), nhà nước có thể lấy một số ruộng đất công của nhà nước để đem ban cấp cho một số trường hợp làm tự điền, nhà nước có thể trưng dụng ruộng đất tư (có đền bù) để xây dựng các công trình của quốc gia. Nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, triều Nguyễn chú trọng đến các chính sách về khuyến nông, khai hoang, lấn biển, trị thủy và thủy lợi. Tuy nhiên, do sự thay đổi của môi trường sinh thái tự nhiên, các công trình trị thủy của triều Nguyễn đều không đạt được hiệu quả, dẫn đến ở một số nơi đê thường xuyên vỡ (vùng đồng bằng sông Hồng, Nam Định, Thánh Hóa, Nghệ An.), đời sống nhân dân đồng bằng Bắc Bộ lâm vào tình cảnh khó khăn, đói khổ. Các vua triều Nguyễn, nhất là Minh Mệnh muốn quay lại mô hình kinh tế - xã hội thời Lê Thánh Tông, với một chính quyền trung ương vững mạnh và một cơ sở xã hội kỹ cương ổn định.
Nhưng thực tế của thế kỉ XIX không còn như thế kỉ XV, khi mà ruộng đất công đã thu hẹp, sở hữu tư nhân đã bao trùm, Nhà nước không còn cơ sở để thực hiện mục đích của mình. Do đó sinh ra mâu thuẫn giữa ý muốn chủ quan của Nhà nước với thực tế khách quan. Các chính sách ngày càng ít hiệu quả, Nhà nước càng tăng cường hơn nữa những áp chế hành chính - quân sự để giải quyết mâu thuẫn thì giai cấp địa chủ, những người có thế lực ở địa phương phản ứng lại bằng cách xây dựng cho mình một vỏ bọc thật chắc chắn, 12 biến làng xã thành những “pháo đài” kiên cố, hạn chế khả năng kiểm soát của nhà nước [41, tr. Kế thừa tiền đề từ các thế kỷ trước, hoạt động công thương nghiệp dưới triều Nguyễn cũng có những thuận lợi để phát triển thêm, nhất là trong các ngành khai mỏ, đúc đồng, làm gốm, dệt vải lụa, nấu đường, làm đồ mỹ nghệ, đồ trang sức… Vào thế kỉ XIX, thương nhân được xếp hạng vào thứ tư trong bốn bậc thang giá trị xã hội sau sĩ, nông, công [4, tr.
Dù là bậc thứ tư nhưng ở thời kì này Nhà nước và xã hội đã thừa nhận đội ngũ thương nhân như một tầng lớp nghề nghiệp độc lập, có vị trí trong xã hội và có đóng góp vào nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, hầu hết thủ công nghiệp tư nhân lúc này vẫn còn dừng lại ở trình độ phường hội quân chủ và sản xuất cụ thể, chưa vươn lên được công trường thủ công tư bản chủ nghĩa. Nhà nước thường mua một số sản phẩm thủ công trong dân gian như lụa là, đồ sành sứ, đường mía, kim loại và bắt các làng nghề phải nộp thuế bằng sản phẩm. Để phục vụ cho nhu cầu của triều đình, hệ thống quan xưởng được mở rộng.
Do điều kiện tổ chức tập trung cao, lực lượng thợ tài giỏi, vốn liếng do nhà nước cấp, các quan xưởng dưới triều Nguyễn đã đóng được thuyền máy chạy bằng hơi nước theo kiểu phương Tây, đúc được súng đạn, chuông đỉnh và chế tạo được vải loại máy móc cơ khí như máy bơm nước, máy xẻ gỗ… Nhưng chúng chỉ là những thử nghiệm để thử tay nghề của người thợ thủ công Việt Nam và được dùng trong sinh hoạt của Hoàng cung, chứ không mở rộng ra ngoài xã hội theo hướng sản xuất hàng hóa để phục vụ cho nền kinh tế quốc dân. Đất nước được thống nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán nội địa và hệ thống chợ làng tiếp tục phát triển nhưng do chính sách “ức thương” đối với bên ngoài đã khiến cho các đô thị lớn trước đây như Phố Hiến, Hội An, Thanh Hà, Gia Định tiếp tục bị suy tàn. Riêng đối với Hà Nội (tức Thăng Long) có tồn tại nhưng cũng không còn được sầm uất như trước nữa. Nhưng do yêu cầu thị trường và tiêu dùng trong nhân dân nên một số sản phẩm trở thành thương phẩm giao lưu mạnh mẽ trong thế kỉ XIX như lúa gạo, các loại gỗ quý, các loại đặc sản như trầm hương, sừng tê, ngà voi, quế, hồ tiêu, yến sào, đường, tơ, chiếu, các loại cây củ làm dược phẩm, các loại hải sản và hải sản đã chế biến… Trong đó, mặt hàng buôn bán thịnh hành nhất là lúa gạo.