CHƯƠNG I: MỘT SỐ HỌC THUYẾT LÍ LUẬN VỀ TIỀN CÔNG.Petty là một trong những người sáng lập ra học thuyết kinh tế trường phái cổ điển ở Anh. Ông vừa là một đại địa chủ vừa là một nhà công nghiệp , là cha đẻ của khoa học thống kê , viết nhiều tác phẩm như “Số học chính trị “(1662) , “Bàn về tiền tệ “(1682). Lý thuyết về tiền lương của W.Petty được xây dựng trên cơ sở lý thuyết giá trị-lao động.Ông coi lao động là hàng hoá, tiền lương là giá cả tự nhiên của lao động. Ông đặt nhiệm vụ xác định mức tiện lương.
Theo ông , giới hạn cao nhất của tiền lươnglà mức tư liệu sinh hoạt tối thiểu để nuôi sống người công nhân. Nếu lương cao thì công nhân thích uống rượu , lười lao động ; còn lương thấp thì công nhân tích cực lao động và gắn với nhà tư bản hơn .Petty là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết “qui luật sắt về tiền lương” Lý thuyết mức lương tối thiểu phản ánh trình độ phát triển ban đầu của CNTB .Lúc này sản xuất chưa phát triển. Để buốc công nhân làm việc , giai cấp tư sản phải dựa vào nhà nước để duy trì mức lương thấp. Tuy nhiên , từ lý luận đó ta thấy công nhân chỉ đước nhận từ sản phẩm lao động của mình những tư liều sinh hoạt tối thiểu do họ tạo ra , phần còn lại bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Đó là mầm mống phân tích sự bóc lột. Các học thuyết kinh tế trọng nông Ủng hộ quan điểm “qui luật sắt về tiền lương” A.Turgot , một bộ trưởng tài chính Pháp , cho rằng tiền lương của công nhân phải thu hẹp ở mức tư liệu sinh hoạt tối thiểu. Nguyên nhân là do cung lao động luôn lớn hơn cầu về lao động. Vì vậy công nhân cạnh tranh với nhau để có việc làm , nhà tư bản có điều kiện để trả lương ở mức tối thiểu.
Vì trả lương ở mức tối thiểu nên sản phẩm lao động của công nhân nông nghiệp bằng tổng của tiền lương và sản phẩm thuần tuý. Ở đây , tiền lương công nhân là thu nhập theo lao động ,còn sản phẩm thuần tuý là thu nhập của nhà tư bản , gọi là lợi nhuận .Smith là người đã mở ra giai đoạn phát triển mới của các học thuyết kinh tế , ông cũng là tác giả của tác phẩm nổi tiếng “ Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các dân tộc “ (1776) Việc phân tích tiền lương của A.Smith có nhiều điều quý giá. Theo ông , khi làm việc bằng tư liệu sản xuất và ruộng đất của mình , người sản xuất nhận được toàn vẹn lao động của họ. Song , khi sở hữu TBCN xuất hiện , người công nhân trở thành lao động làm thuê , thì tiền lương của họ không cọn phải là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động sản phẩm lao động của họ sản xuất nữa , mà chỉ là một bộ phận trong đó.
Cơ sơ tiền lương là giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và con cái anh ta để được tiếp tục đưa ra thay thế trên thị trường lao động. Ông nghiên cứu mức bình thường của tiền lương và chỉ ra giới hạn tối thiểu của nó. Theo ông , nếu tiền lương thấp hơn mức tối thiểu này , là thảm hoạ cho sự tồn tại của dân tộc .Smith chỉ ra các nhân tố làm ảnh hưởng tới tiền lương .Trước hết ông cho rằng tiền lương phụ thuộc trình độ phát triển kinh tế và phản ánh trình độ phát triển kinh tế mỗi nước. Tiền lương thấp hơn mức tối thiểu chỉ có ở những nước đang diễn ra sự suy thoái về kinh tế.
Chẳng hạn , ở Ấn Độ lúc bấy giờ tiền lương thấp hơn mức tối thiểu , ở Trung Quốc lúc bấy giờ tiền lương chỉ cao hơn mức tối thiểu không đáng kể , vì vậy kinh tế những nước này đang bị đình trệ .Còn ở các nước mà ở đó nền kinh tế phát triển mạnh thì ở đó tiền lương cao hơn mức tối thiểu. Phần lớn hơn này do mức tiêu dùng , truyền thống văn hoá , tập quán dân tộc … quy định. Do đó, ông cho rằng công đoàn không có tác dụng trong việc đấu tranh đòi tăng tiền lương. Một đặc điểm khác trong lý thuyết tiền lương của A.Smith là ông nghiên cứu tiền lương trong cơ chế thị trường tự do.
Theo ông , có một cơ chế chi phối sự hoạt động của tiền lương hoạt động như sau : Tăng tiền lương dẫn đến tăng tỉ số sinh : tăng cung lao động , tăng cạnh tranh giữa công nhân để bán lao động. Giảm tiền lương dẫn đến giảm tỉ số sinh , 7 giảm cung lao động , tăng cạnh tranh giữa các nhà tư bản để mua lao động nên làm cho tiền lương tăng lên .Smith là người ủng hộ trả tiền lương cao. Theo ông , tiền lương cao sẽ tạo khả năng tăng trưởng kinh tế và mức tiền lương cao tương đối là nhân tố kích thích công nhân tăng năng suất lao động. Điều đó tạo ra điều kiện tăng tích luỹ tư bản và tăng nhu cầu về lao động.
Ông phê phán quan điểm cho rằng tiền lương cao làm cho công nhân lười biếng và không khuyến khích lao động. Ông vạch rõ rằng , nhà tư bản không sợ gì việc trả lương cao cho công nhân , vì cơ chế của thị trường lao động sẽ điều chỉnh mức tiền lương thích ứng. Tuy nhiên trong lý thuyết tiền lương của A.Smith cũng như các nhà kinh tế học tư sản trước và sau đều cho rằng tiền lương là giá cả của lao động .Ricardo nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực như toán học , hoá học ,lý học , là một trong những người sáng lập ra ngành địa chất , tuy vậy sở trường của ông là kinh tế chính trị học. Ông là tác giả của các tác phẩm nổi tiếng như “Những nguyên lý cơ bản của chính sách kinh tế và thuế khoá “ , “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học “ Về tiền lương , D.Ricardo coi lao động là hàng hoá.
Tiền lương hay giá cả thị trường của lao động được xác đính trên cơ sơ giá cả tự nhiên và xoay quanh nó. Giá cả tự nhiên của hàng hoá lao động là giá trị những tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta. Ông đã chỉ ra cấu thành tư liệu sinh hoạt cho người công nhân phụ thuộc yếu tố lịch sử , truyền thống dân tộc , song ông lại chủ trương những tư liệu sinh hoạt đó chỉ ở mức tối thiểu. Nói một cách khác ông ủng hộ “lý thuyết quy luật sắt về tiền lương “ Ông giải thích rằng , tiền lương phải ở mức tối thiểu , đó là quy luật chung tự nhiên cho mọi xã hội.
Chỉ trong điều kiện đặc biệt thuận lợi , khả năng tăng năng lực sản xuất mới vượt khả năng tăng dân số. Khi đó , cơ chế điều tiết tự phát sẽ hoạt động. Điều đó sẽ kìm hãm tốc độ tăng dân số. Ông ủng hộ việc nhà nước không can thiệp vào hoạt động của thị trường lao động , phê phán sự 8 giúp đỡ đối với người nghèo , vì theo ông làm như vậy sẽ ngăn cản hoạt động của tự nhiên.
9 CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN CÔNG - THU NHẬP VÀ VIỆC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG. Khái niệm tiền lương: Tiền lương chính là giá cả của hàng hoá SLĐ, là sự trả công cho thời gian lao động cần thiết của công nhân. Các hình thức cơ bản của tiền lương: Nhìn bề ngoài, dường như toàn bộ lao động mà công nhân đã hao phí được nhà tư bản trả công đầy đủ, xã hội tư bản dường như là một xã hội công bằng không ai bóc lột ai. Thực ra, tiền lương không phải là giá trị của lao động hay gí cả của lao động.
Lao động tạo ra gí trị hàng hoá, nhưng bản thân nó không phải là hàng hoá và không có giá trị. Cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động mà là sức lao động, tiền lương không phải là giá trị hay giá cả của lao động mà chính là giá trị của hàng hóa sức lao động. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, tiền lương được trả dưới hai hình thức: tiền lương tính theo thời gian và tiền lương tính theo sản phẩm. Tiền lương tính theo thời gian là hình thức tiền lương mà số lượng của nó tỷ lệ thuận với thời gian làm việc của người lao động ở những công việc không tính được bằng sản phẩm.
Thời gian làm việc có thể tính theo giờ, ngày, tuần, tháng. nhưng thường tính bằng đơn giá giờ. Với hình thức này khi trả lương theo ngày, tuần, tháng, …nhà tư bản có thể kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, nhà tư bản có thể linh hoạt áp dụng lượng giờ khi có ít việc làm, lượng ngày tuần, tháng khi có nhiều việc làm khi kỹ thuật thủ công và thời nay khi chuyển sang tự động hoá, lương theo thời gian là chủ yếu. Tiền lương tính theo sản phẩm là hình thức tiền lương mà số lượng của nó tỷ lệ thuật với số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra.
Đơn giá để tính lượng là số lượng và chất lượng sản phẩm. Với hình thức này: chủ tư bản tiết kiệm chi phí trả lương cho hệ thống bộ máy đốc công. Người công nhân vì lợi ích của mình mà cải tiến kỹ thuật, tăng cường độ lao động, nâng cao tay nghề làm cho năng suất lao động tăng, khi năng suất lao động tăng ở từng người thì người đó có lợi nhưng khi mọi người đề ganh đua đưa năng suất đó lên là năng suất lao động trung bình của công nhân càng làm nhiều thì tiền lương càng ít đi. Khi kỹ thuật cơ khí thì lương theo sản phẩm là chủ yếu.
Trong thực tế tiền lương trong chủ nghĩa tư bản thường thấp hơn giá trị sức lao động mặc dù nhà tư bản vẫn có tính toán cho người công nhân tiền lương tính theo thời gian và tiền lương tính theo sản phẩm, giá trị sức lao động của người công nhân bỏ lao động nhằm tạo ra sản phẩm lớn nhưng tiền lương thường thấp hơn. Tiền lương được sử dụng để sản xuất và tái sản xuất sức lao động do đó tiền lương danh nghĩa phải được chuyển hoá thành tiền lương thực tế.