Luận án Tiến sĩ: Tích hợp phát triển KN tự nhận thức HS đọc hiểu VBTS THCS

Luận án tiến sĩ: Phát triển kĩ năng tự nhận thức cho học sinh THCS qua dạy đọc hiểu văn bản tự sự. Nghiên cứu giáo dục học giá trị.

Chuyên ngành

Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn và Tiếng Việt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ giáo dục học

2020

281
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Vì sao cần tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức trong đọc hiểu VBTS THCS

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc phát triển toàn diện năng lực học sinh đang trở thành ưu tiên hàng đầu. Một trong những năng lực cốt lõi là kĩ năng tự nhận thức, giúp cá nhân hiểu rõ bản thân, điểm mạnh, điểm yếu, giá trị và mục tiêu sống. Đặc biệt đối với học sinh Trung học Cơ sở (THCS), giai đoạn mà tâm sinh lí có nhiều biến động, việc rèn luyện tự nhận thức càng trở nên cấp thiết. Đọc hiểu văn bản tự sự (VBTS) đóng vai trò quan trọng trong tiến trình này. VBTS không chỉ cung cấp kiến thức, mà còn là phương tiện hiệu quả để khám phá thế giới nội tâm nhân vật, từ đó soi chiếu và thấu hiểu bản thân. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Chính Thành (2020) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức cho học sinh trong dạy học đọc hiểu VBTS ở THCS. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, khi đọc các tác phẩm tự sự, học sinh được tiếp xúc với nhiều số phận, hoàn cảnh, và các hệ giá trị khác nhau, từ đó kích thích quá trình tự vấn, tự đánh giá và hình thành kĩ năng tự nhận thức một cách sâu sắc. Đây là một định hướng quan trọng, góp phần vào đổi mới giáo dụcphát triển năng lực học sinh toàn diện, không chỉ dừng lại ở kiến thức mà còn ở khả năng ứng phó với cuộc sống. Việc rèn luyện bản thân thông qua đọc hiểu không chỉ nâng cao trình độ Ngữ văn mà còn trang bị cho học sinh những công cụ cần thiết để trưởng thành.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của kĩ năng tự nhận thức đối với học sinh THCS

Kĩ năng tự nhận thức là khả năng cá nhân nhận diện đúng cảm xúc, sở thích, năng lực, giá trị, điểm mạnh và điểm yếu của bản thân. Đối với học sinh THCS, đây là giai đoạn hình thành nhân cách mạnh mẽ, việc sở hữu kĩ năng tự nhận thức giúp các em xác định rõ ràng hơn về mình, giảm thiểu các hành vi bốc đồng, tăng cường khả năng tự điều chỉnh và đưa ra quyết định phù hợp. Nó là nền tảng cho sự phát triển của giáo dục kĩ năng sống nói chung, hỗ trợ học sinh xây dựng sự tự tin, lòng tự trọng và khả năng đối mặt với thử thách trong học tập và cuộc sống. Theo Nguyễn Chính Thành (2020), việc phát triển tự nhận thức cho học sinh THCS còn giúp các em xây dựng một nền tảng vững chắc để thích nghi với những thay đổi của xã hội hiện đại.

1.2. Vai trò đặc biệt của văn bản tự sự trong giáo dục tự nhận thức

Văn bản tự sự (VBTS), với đặc trưng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật, và xây dựng các tình huống kịch tính, tạo điều kiện lý tưởng để học sinh khám phá thế giới quan và nhân sinh quan đa dạng. Khi đọc VBTS, học sinh không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn đồng cảm, phân tích động cơ hành động của nhân vật, từ đó liên hệ đến bản thân. Đây là một phương pháp dạy học Ngữ văn hiệu quả để khơi gợi sự tự vấn và rèn luyện bản thân. Các câu chuyện về sự trưởng thành, đấu tranh, hay vượt qua khó khăn trong VBTS giúp học sinh nhận ra giá trị của lòng kiên trì, sự đồng cảm và trách nhiệm, góp phần củng cố kĩ năng tự nhận thức và xây dựng hệ giá trị cá nhân.

II. Thách thức và vấn đề khi tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức trong đọc hiểu VBTS

Việc tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức trong đọc hiểu VBTS THCS là một định hướng đúng đắn, song thực tế triển khai còn đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là nhận thức chưa đồng đều của giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của kĩ năng tự nhận thức. Giáo viên đôi khi chỉ tập trung vào việc truyền đạt kiến thức văn học mà chưa chú trọng khai thác tiềm năng của văn bản tự sự THCS để bồi dưỡng năng lực nội tại cho học sinh. Áp lực về chương trình, thời lượng tiết học cũng là rào cản khiến việc lồng ghép trở nên khó khăn. Hơn nữa, việc đánh giá sự phát triển của kĩ năng tự nhận thức không dễ dàng như đánh giá kiến thức hay kĩ năng đọc hiểu thông thường, đòi hỏi những tiêu chí và phương pháp chuyên biệt. Nhiều phương pháp dạy học Ngữ văn truyền thống chưa thực sự khuyến khích học sinh chủ động rèn luyện bản thân và tự khám phá. Việc thiếu các tài liệu hướng dẫn cụ thể, các buổi tập huấn chuyên sâu về giáo dục kĩ năng sống nói chung và kĩ năng tự nhận thức nói riêng cũng là một yếu tố hạn chế hiệu quả của quá trình tích hợp. Luận án của Nguyễn Chính Thành (2020) đã chỉ ra rằng, để giải quyết những thách thức này, cần có sự thay đổi từ cấp độ chính sách, chương trình đến hành động cụ thể của từng giáo viên.

2.1. Hạn chế trong nhận thức và phương pháp giảng dạy hiện hành

Phần lớn giáo viên hiện nay được đào tạo theo hướng truyền thụ kiến thức văn học truyền thống, ít được trang bị sâu về các phương pháp dạy học tích hợp phát triển kĩ năng mềm. Sự thiếu hụt này dẫn đến việc giáo viên chưa khai thác triệt để tiềm năng của văn bản tự sự THCS trong việc khơi gợi tự nhận thức. Việc chỉ tập trung vào phân tích nội dung, nghệ thuật mà bỏ qua cơ hội cho học sinh liên hệ, suy ngẫm về bản thân là một hạn chế phổ biến. Học sinh cũng thường quen với việc tiếp thu thụ động, ít chủ động trong việc phân tích nội tâm hay rèn luyện bản thân qua tác phẩm.

2.2. Áp lực chương trình và khó khăn trong đánh giá kĩ năng tự nhận thức

Chương trình giáo dục THCS hiện hành vẫn còn nặng về kiến thức, tạo áp lực về thời gian và nội dung cho giáo viên. Điều này khiến việc dành đủ thời lượng cho các hoạt động tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức trở nên khó khăn. Hơn nữa, việc đánh giá sự tiến bộ của học sinh trong kĩ năng tự nhận thức là một thách thức lớn. Kĩ năng này mang tính chủ quan, khó định lượng và cần quan sát trong thời gian dài, đòi hỏi các công cụ đánh giá chuyên biệt và sự tinh tế từ phía giáo viên, khác biệt so với việc chấm điểm các bài kiểm tra kiến thức thông thường.

III. Khám phá các phương pháp tích hợp kĩ năng tự nhận thức hiệu quả qua đọc hiểu VBTS THCS

Để tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức trong đọc hiểu VBTS THCS một cách hiệu quả, việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là yếu tố then chốt. Luận án của Nguyễn Chính Thành (2020) đã gợi mở nhiều hướng tiếp cận, nhấn mạnh nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu, khả thi và hệ thống. Giáo viên cần chủ động biến các giờ đọc hiểu không chỉ thành nơi tiếp thu kiến thức mà còn là không gian để học sinh rèn luyện bản thânphát triển năng lực học sinh. Điều này đòi hỏi sự linh hoạt trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt động học tập, từ việc đặt câu hỏi khơi gợi tư duy đến việc sử dụng các kĩ thuật giảng dạy hiện đại. Các phương pháp dạy học như đàm thoại gợi mở, thảo luận nhóm, sắm vai, viết nhật ký đọc sách hay các dự án học tập đều có thể được áp dụng để tăng cường sự tương tác và tự phản tư của học sinh. Mục tiêu là giúp học sinh không chỉ hiểu sâu văn bản tự sự mà còn nhận ra những giá trị, bài học về cuộc sống, về bản thân mình ẩn chứa trong đó. Việc tạo môi trường học tập an toàn, khuyến khích sự chia sẻ và tôn trọng sự khác biệt cũng rất quan trọng để học sinh tự tin bộc lộ suy nghĩ và cảm xúc, từ đó củng cố kĩ năng tự nhận thức của mình.

3.1. Sử dụng kỹ thuật đọc hiểu sâu và đặt câu hỏi gợi mở tư duy

Kĩ thuật đọc hiểu sâu giúp học sinh không chỉ nắm bắt nội dung bề mặt của VBTS mà còn khám phá ý nghĩa tiềm ẩn, các lớp nghĩa sâu sắc hơn. Giáo viên cần thiết kế hệ thống câu hỏi gợi mở, khuyến khích học sinh phân tích tâm lí nhân vật, dự đoán hành vi, và lý giải động cơ. Ví dụ, thay vì hỏi 'Nhân vật làm gì?', hãy hỏi 'Tại sao nhân vật lại hành động như vậy?', 'Em có nghĩ nhân vật có lựa chọn khác không? Nếu là em, em sẽ làm gì?'. Những câu hỏi này thúc đẩy học sinh liên hệ với trải nghiệm cá nhân, từ đó phát triển năng lực học sinh trong việc tự đánh giá và nhận diện cảm xúc.

3.2. Tổ chức hoạt động thảo luận tranh biện và viết phản hồi cá nhân

Hoạt động thảo luận nhóm, tranh biện về các vấn đề đạo đức, hành vi của nhân vật trong văn bản tự sự THCS tạo cơ hội để học sinh lắng nghe ý kiến đa chiều, bảo vệ quan điểm của mình và học cách suy nghĩ phản biện. Việc viết nhật ký đọc sách, phản hồi cá nhân sau mỗi tác phẩm cũng là một phương pháp dạy học hiệu quả. Qua đó, học sinh ghi lại cảm xúc, suy nghĩ, liên hệ với bản thân, nhận diện được những điểm mạnh, điểm yếu hay những bài học mà mình đã rút ra. Đây là cách trực tiếp để tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức thông qua sự tự phản tư và rèn luyện bản thân.

IV. Quy trình cụ thể tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức trong đọc hiểu văn bản tự sự THCS

Để thực hiện hiệu quả việc tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức trong đọc hiểu VBTS THCS, một quy trình rõ ràng và có tính hệ thống là điều cần thiết. Dựa trên cơ sở nghiên cứu của Nguyễn Chính Thành (2020), quy trình này được đề xuất với ba bước cơ bản, khai thác tối đa tiềm năng của văn bản tự sự THCS để bồi dưỡng kĩ năng tự nhận thức cho học sinh. Quy trình này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về nội dung tác phẩm mà còn thúc đẩy quá trình nội hóa các giá trị, biến những bài học từ sách vở thành nhận thức và hành vi của bản thân. Đây là một định hướng chiến lược trong đổi mới giáo dục, hướng tới việc phát triển năng lực học sinh toàn diện, không chỉ dừng lại ở kiến thức mà còn ở khả năng hiểu mình, hiểu người và ứng xử phù hợp trong cuộc sống. Việc áp dụng linh hoạt quy trình này trong các tiết đọc hiểu văn bản tự sự sẽ góp phần đáng kể vào việc giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ.

4.1. Bước 1 Học sinh tự nhận thức được các giá trị sống có trong VBTS

Ở bước này, giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu VBTS để nhận diện và phân tích các hệ giá trị đạo đức, luân lí, văn hóa được thể hiện trong tác phẩm. Học sinh cần được khuyến khích đặt câu hỏi: 'Nhân vật này đại diện cho giá trị gì?', 'Hành động của nhân vật thể hiện điều gì về giá trị sống?', 'Giá trị nào là quan trọng nhất trong câu chuyện?'. Qua đó, các em không chỉ hiểu cốt truyện mà còn thấu hiểu được thông điệp sâu sắc, những bài học về lòng nhân ái, sự dũng cảm, trung thực, trách nhiệm... Từ việc nhận diện các giá trị này, học sinh bắt đầu hình thành một khung tham chiếu để đánh giá và so sánh với hệ giá trị cá nhân của mình, bước đầu củng cố kĩ năng tự nhận thức.

4.2. Bước 2 Học sinh tự nhận thức điểm mạnh điểm yếu của bản thân thông qua đọc hiểu VBTS

Sau khi nhận diện giá trị, bước tiếp theo là khuyến khích học sinh đối chiếu bản thân với các nhân vật, tình huống trong VBTS. Giáo viên có thể đặt các câu hỏi: 'Em có thấy mình giống nhân vật nào không? Ở điểm gì?', 'Nếu em ở trong hoàn cảnh của nhân vật, em sẽ xử lí như thế nào?', 'Bài học từ thất bại/thành công của nhân vật giúp em nhận ra điều gì về bản thân mình?'. Thông qua việc so sánh và tự vấn, học sinh dần khám phá ra những điểm mạnh (ví dụ: sự kiên trì, lòng tốt) và điểm yếu (ví dụ: sự nóng vội, thiếu tự tin) của chính mình. Đây là một quá trình rèn luyện bản thân quan trọng, giúp học sinh nhận diện rõ hơn về kĩ năng tự nhận thức và hướng tới sự hoàn thiện.

4.3. Bước 3 Học sinh thực hiện hành vi ứng xử dựa trên nền tảng giá trị sau khi đọc hiểu VBTS

Bước cuối cùng là chuyển hóa nhận thức thành hành động. Sau khi đã nhận diện được các giá trị sống và hiểu rõ hơn về bản thân, học sinh cần được khuyến khích áp dụng những bài học đó vào thực tiễn cuộc sống. Điều này có thể thông qua việc chia sẻ cảm nhận, viết cam kết hành động, hoặc tham gia các hoạt động ngoại khóa dựa trên tinh thần của tác phẩm. Ví dụ, sau khi đọc một câu chuyện về lòng dũng cảm, học sinh có thể tự cam kết sẽ mạnh dạn hơn trong việc trình bày ý kiến. Đây là bước quan trọng để phát triển năng lực học sinh, biến kĩ năng tự nhận thức từ lý thuyết thành hành vi ứng xử cụ thể, bền vững, và có ý nghĩa trong giáo dục kĩ năng sống.

V. Ứng dụng thực tiễn Lợi ích khi tích hợp tự nhận thức trong dạy học Ngữ văn THCS

Việc tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức trong đọc hiểu VBTS THCS mang lại những lợi ích thiết thực, vượt ra ngoài phạm vi môn học Ngữ văn. Khi học sinh được trang bị kĩ năng tự nhận thức tốt, các em sẽ tự tin hơn trong giao tiếp, đưa ra quyết định sáng suốt và biết cách giải quyết vấn đề hiệu quả. Theo nghiên cứu của Nguyễn Chính Thành (2020), việc này không chỉ cải thiện chất lượng đọc hiểu văn bản tự sự mà còn góp phần quan trọng vào đổi mới giáo dục toàn diện. Học sinh không chỉ đơn thuần là người đọc thụ động mà trở thành người đọc chủ động, biết cách tương tác với văn bản, rút ra bài học cho bản thân và áp dụng vào cuộc sống. Điều này thể hiện sự chuyển dịch từ việc tập trung vào kiến thức sang phát triển năng lực học sinh, chuẩn bị cho các em hành trang vững chắc để hội nhập xã hội. Các nhà quản lý giáo dục và giáo viên cần xem đây là một chiến lược dài hạn để nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ tương lai. Những tác động tích cực này là minh chứng rõ ràng cho tầm quan trọng của việc tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức vào chương trình giảng dạy THCS.

5.1. Nâng cao hiệu quả đọc hiểu và khả năng phân tích văn bản tự sự

Khi học sinh có kĩ năng tự nhận thức tốt, các em sẽ tiếp cận văn bản tự sự THCS với tư duy sâu sắc hơn. Khả năng đồng cảm, thấu hiểu nhân vật, và nhận diện các giá trị sống sẽ giúp các em phân tích tác phẩm ở nhiều góc độ, không chỉ về mặt ngôn ngữ hay cấu trúc mà còn về ý nghĩa nhân sinh. Điều này trực tiếp nâng cao hiệu quả đọc hiểu văn bản tự sự, giúp học sinh cảm thụ văn học một cách trọn vẹn và ý nghĩa hơn. Đồng thời, khả năng tự phản tư khi đọc cũng giúp các em ghi nhớ và vận dụng kiến thức lâu bền hơn.

5.2. Phát triển năng lực cá nhân và giáo dục kĩ năng sống toàn diện

Tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức không chỉ dừng lại ở việc đọc hiểu mà còn là nền tảng cho sự phát triển năng lực học sinh toàn diện. Học sinh có thể áp dụng khả năng tự nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của mình vào việc học các môn khác, chọn lựa hoạt động phù hợp, và định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Đây chính là một phần quan trọng của giáo dục kĩ năng sống, giúp các em tự chủ, tự tin và có trách nhiệm hơn với bản thân và cộng đồng, đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay.

VI. Kết luận Định hướng phát triển và tầm nhìn tương lai cho tự nhận thức trong giáo dục THCS

Việc tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức trong đọc hiểu VBTS THCS không chỉ là một sáng kiến giáo dục mà còn là một xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa và đổi mới giáo dục. Từ những phân tích về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, có thể khẳng định rằng, đây là một hướng đi đúng đắn, mang lại nhiều giá trị bền vững cho học sinh Trung học Cơ sở. Nâng cao kĩ năng tự nhận thức thông qua đọc hiểu văn bản tự sự sẽ trang bị cho các em không chỉ kiến thức mà còn là những phẩm chất cần thiết để trở thành công dân toàn diện, có khả năng rèn luyện bản thân và thích ứng với mọi sự thay đổi của xã hội. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Các nhà nghiên cứu và quản lý giáo dục cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, đề xuất các phương pháp dạy học Ngữ văn sáng tạo và hiệu quả hơn, đồng thời xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho giáo viên về giáo dục kĩ năng sống nói chung và kĩ năng tự nhận thức nói riêng. Tương lai của giáo dục THCS sẽ định hình bởi khả năng chúng ta trao quyền cho học sinh để các em không chỉ học hỏi mà còn thấu hiểu chính mình, từ đó phát triển năng lực học sinh một cách toàn diện.

6.1. Tầm quan trọng của sự phối hợp liên tục giữa nhà trường gia đình và cộng đồng

Để kĩ năng tự nhận thức được tích hợp phát triển một cách bền vững, không thể chỉ dựa vào nỗ lực của nhà trường. Gia đình cần nhận thức được vai trò quan trọng của mình trong việc đồng hành, lắng nghe, và tạo điều kiện cho con em rèn luyện bản thân. Cộng đồng cũng cần tạo ra môi trường xã hội lành mạnh, có nhiều cơ hội cho học sinh thể hiện và phát triển các kĩ năng sống. Sự phối hợp này sẽ tạo nên một hệ sinh thái giáo dục toàn diện, giúp học sinh THCS không ngừng nâng cao kĩ năng tự nhận thức và các kĩ năng sống khác.

6.2. Định hướng nghiên cứu và phát triển phương pháp dạy học Ngữ văn trong tương lai

Trong tương lai, các nghiên cứu về phương pháp dạy học Ngữ văn cần tiếp tục đi sâu vào việc phát triển các mô hình tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức một cách khoa học và thực tiễn hơn. Cần có thêm các công cụ đánh giá định tính và định lượng để đo lường hiệu quả của quá trình này. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xây dựng các bài học tương tác, tạo diễn đàn cho học sinh chia sẻ cảm xúc, và sử dụng văn bản tự sự đa phương tiện cũng là một hướng đi đầy tiềm năng, góp phần vào đổi mới giáo dụcphát triển năng lực học sinh một cách toàn diện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Luận án tiến sĩ giáo dục học tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản tự sự ở trung học cơ sở

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TÍCH HỢP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VBTS Ở THCS Dựa vào nguồn tư liệu bao quát được và trong phạm vi quan tâm của đề tài, chúng tôi điểm lại tình hình nghiên cứu về vấn đề giáo dục kĩ năng sống và dạy học đọc hiểu VBTS ở trường THCS hiện nay, từ đó xác định những tiền đề mà người đi trước đã gợi mở để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình. Trên thế giới 1.Tình hình nghiên cứu về KNS và KN TNT Vấn đề KNS, KN TNT đã được đề cập đến từ những thập kỉ đầu của thế kỉ 20. Tuy nhiên, lúc đầu các nghiên cứu này mới chỉ thực hiện trong lĩnh vực kinh tế, xã hội. Sau đó, người ta ngày càng nhận thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu giáo dục KNS cho HS từ góc độ nhà trường.

Tại Mỹ, từ năm 1916, người Mỹ đã nhận ra rằng tri thức nhân loại là rất lớn nhưng để thực hành thành thạo và áp dụng, ứng dụng vào cuộc sống thường không như mong muốn. Vì vậy, mỗi người dân lao động tại Mỹ phải đảm bảo thực hành và phải được các tổ chức công nhận là đã học qua 13 kĩ năng bắt buộc. Tiếp theo Mỹ, nhiều nước khác như Canada, Anh, Singapore,. và một số tổ chức quốc tế cũng bắt đầu quan tâm, nghiên cứu về KNS nói chung và KN TNT nói riêng.

10 Tuy nhiên, cho đến nay, hệ thống tên gọi các KNS cơ bản vẫn chưa thống nhất. Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U. Department of Labor) và Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kĩ năng cơ bản trong công việc. Kết luận được đưa ra là có 13 kĩ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc là: “1.

Kỹ năng học và tự học (learning to learn); 2. Kỹ năng lắng nghe (Listening skills); 3. Kỹ năng thuyết trình (Oral communication skills): 4. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills): 5.

Kỹ năng tư duy sáng tạo (Creative thinking skills); 6. Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem); 7. Kỹ năng đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc (Goal setting/ motivation skills);. Kỹ năng lãnh đạo bản thân (Leadership skills)” [157].

Chính phủ Canada cũng có một Bộ phụ trách về việc phát triển kĩ năng cho người lao động ­ Bộ Phát triển Nguồn Nhân lực và Kĩ năng Canada (Human Resources and Skills Development Canada ­ HRSDC) có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lực cạnh tranh, giúp người Canada nâng cao năng lực ra quyết định và năng suất làm việc để nâng cao chất lượng cuộc sống. Bộ này cũng có những nghiên cứu để đưa ra danh sách các kĩ năng cần thiết đối với người lao động. Một tổ chức phi lợi nhuận của Canada ­ Conference Board of Canada ­ cũng chuyên nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, cũng như năng lực hoạt động các tổ chức và các vấn đề chính sách công cộng. Tổ chức này cũng đã đưa ra danh sách 6 kĩ năng hành nghề cho thế kỷ 21 là: “1.

Kỹ năng giao tiếp (Communication); 2. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving); 3. Kỹ năng tư duy và hành vi tích cực (Positive attitudes and behaviours); 4. Kỹ năng thích ứng (Adaptability); 5.

Kỹ năng làm việc với con người (Working with others); 6. Kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán (Science, technology and mathematics skills)” [157]. Chính phủ Anh cũng có cơ quan chuyên trách về phát triển kĩ năng cho người lao động. Bộ Đổi mới, Đại học và Kỹ năng được chính phủ Anh thành lập từ ngày 28 tháng 6 năm 2007; đến tháng 6 năm 2009 thì được ghép với Bộ Kinh tế, Doanh 11 nghiệp và Đổi mới pháp chế để tạo nên bộ mới là Bộ Kinh tế, Đổi mới và Kỹ năng.

Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) của bộ này cũng đưa ra danh sách 6 kĩ năng quan trọng là: “1. Kỹ năng tính toán (Application of number); 2. Kỹ năng giao tiếp (Communication); 3. Kỹ năng tự học và nâng cao năng lực cá nhân (Improving own learning and performance); 4.

Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information and communication technology); 5. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving); 6. Kỹ năng làm việc với con người (Working with others)” [157]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, KNS gồm các kĩ năng cơ bản như: “Kĩ năng giao tiếp; Kĩ năng tự nhận thức; Kĩ năng xác định giá trị; Kĩ năng ra quyết định; Kĩ năng ứng phó và xử lí căng thẳng” [120, tr.

Mặc dù chưa có sự thống nhất về số lượng và nội dung các KNS cơ bản, song nhìn chung, nghiên cứu của các quốc gia kể trên đã thống nhất xem KN TNT là một trong những kĩ năng cơ bản mà người lao động cần phải có trong xã hội hiện đại. Nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng của KNS đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội, năm 1996 tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã xác định 4 trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI mà thực chất là phát triển các KNS, đó là: "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình". Ứng với 4 trụ cột đó là các nhóm năng lực cơ bản như năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá nhân như: “Học để biết (Learning to know) gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả… ; Học để khẳng định mình (Learning to be) gồm các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức,… ; Học sống với người khác (Learning to live together) gồm các kĩ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác,… ; Học để làm (Learning to do) gồm kĩ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…” [16, tr. Như vậy, từ thập niên cuối thế kỉ XX, UNESCO đã 12 rất coi trọng các kĩ năng sống.

Trong đó, KN TNT được xem là một trong những kĩ năng sống cốt yếu cần phải rèn luyện để phát triển năng lực cho HS. Tiếp đến, Báo cáo Giám sát toàn cầu Giáo dục cho mọi người năm 2009 đã nhắc đến 2 mục tiêu liên quan đến giáo dục KNS (mục tiêu 3, mục tiêu 6) trong Kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người, tổ chức tại Senegan năm 2000: “Những mục tiêu này cho thấy, mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp; đồng thời cho rằng KNS của người học là một trong những tiêu chí của chất lượng giáo dục” [167]. Trong bối cảnh chung đó, nhiều nhà Tâm lí học, Giáo dục học thế giới chắc chắn đã có nhiều nghiên cứu lí thuyết quan trọng về vấn đề phát triển năng lực cũng như phát triển KNS cho HS. Tuy nhiên, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, những công trình đó chưa được dịch và xuất bản nhiều ở Việt Nam, ngoại trừ một số công trình tiêu biểu như: Trí tuệ xúc cảm (Emotional Intelligence­1995), Trí tuệ xúc cảm ứng dụng trong công việc (Working With Emotional Intelligence­ 1998), và Trí tuệ xã hội (Social Intelligence­2006) của Daniel Goleman được NXB Tri thức, NXB Lao động – Xã hội xuất bản năm 2005, 2007 và 2008, Thông minh cảm xúc thế kỉ 21 của Travis Bradberry & Jean Greaves, NXB Phụ nữ và TGM Books xuất bản năm 2014, Những giá trị sống dành cho giới trẻ và Những giá trị sống dành cho trẻ từ 8 đến 14 tuổi của Diane Tillman, NXB Trẻ xuất bản năm 2014.

Với một quan niệm mới và cách tiếp cận mới, Daniel Goleman đã mô thức hoá cơ cấu của trí tuệ xúc cảm thành năm năng lực cơ bản bao gồm: 1) tự nhận thức, 2) tự điều chỉnh, 3) động cơ thúc đẩy, 4) sự thấu cảm, 5) các kĩ năng xã hội. Goleman đồng thời đã phân tích, dẫn chứng và luận giải thuyết phục vai trò quyết định của các năng lực đó trong việc tạo nên “lợi thế cạnh tranh chính” cũng như sự thành công và sự nổi trội của một con người trong cuộc sống, công việc và xã hội. Trong cuốn Thông minh cảm xúc thế kỉ 21, tác giả Travis Bradberry & Jean Greaves đã chỉ rõ vai trò to lớn của chỉ số EQ đối với cuộc sống của con người, 13 làm rõ khái niệm, những biểu hiện của bốn kĩ năng tạo thành trí tuệ cảm xúc là: tự nhận thức, làm chủ bản thân, nhận thức xã hội, làm chủ mối quan hệ. Hơn nữa, trong cuốn sách này, hai tác giả còn đi sâu phân tích các phương pháp để nâng cao các kĩ năng trên.

Về KN TNT, tác giả nêu 15 phương pháp nâng cao KN TNT gồm: không ngừng đánh giá cảm xúc của mình là tốt hay xấu; quan sát hiệu ứng lan tỏa từ cảm xúc của bạn; đối diện với những cảm giác khó chịu; cảm nhận cảm xúc thông qua biểu hiện cơ thể; nhận biết tác nhân khiến bạn nóng giận; quan sát bản thân như chim ưng rình mồi;… Cuốn Những giá trị sống dành cho giới trẻ và Những giá trị sống dành cho trẻ từ 8 đến 14 tuổi của Diane Tillman gắn liền với chương trình Giáo dục những giá trị sống. Đây là một chương trình giáo dục về các giá trị bằng cách đưa ra các hoạt động mang tính trải nghiệm và các phương pháp thực hành dành cho giáo viên và người hướng dẫn nhằm giúp học sinh có điều kiện phát triển 12 giá trị căn bản của cá nhân và xã hội như: hợp tác, khiêm tốn, yêu thương, hòa bình, tôn trọng, trách nhiệm, khoan dung,… Cuốn sách này đã ít nhiều cung cấp cho chúng ta phương pháp thực hiện giáo dục KNS nói chung, trong đó có KN TNT. Tuy không tập trung nghiên cứu KN TNT, nhưng các công trình nghiên cứu kể trên đã định nghĩa và mô tả khá cụ thể nội hàm khái niệm KN TNT và bước đầu có một số gợi ý về cách thức giáo dục KN TNT cho HS. Đây là khung lí thuyết quan trọng giúp chúng tôi xây dựng cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu của luận án.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ