MỞ ĐẦU Sốc nhiễm khuẩn (SNK) là một bệnh lý thường gặp trong thực hành lâm sàng, không chỉ riêng tại những khoa hồi sức cấp cứu (HSCC) mà còn có thể gặp ở nhiều chuyên khoa khác nhau, với tỉ lệ mới mắc ước tính khoảng 1,7 triệu ca mỗi năm tại Hoa Kỳ1. Do là một bệnh cảnh nặng của nhiễm khuẩn huyết2 (NKH) cho nên SNK thường đi kèm bệnh cảnh rối loạn chức năng đa cơ quan, thêm vào đó là các rối loạn về mặt huyết động cũng như chuyển hóa tế bào nghiêm trọng, khiến cho tỉ lệ tử vong của bệnh nhân SNK có thể lên tới 38,5%3, cao hơn so với bệnh cảnh NKH đơn độc. Mặt khác, tổn thương thận cấp (TTTC) là một bệnh cảnh rối loạn chức năng cơ quan thường gặp trong SNK với tỉ lệ ước tính là cứ ba bệnh nhân SNK thì sẽ có một bệnh nhân bị TTTC kèm theo4,5. Đặc biệt, bệnh nhân SNK mà có TTTC kèm theo thì nguy cơ tử vong có thể lên tới 40%4,6.
Nếu cần phải điều trị thay thế thận (ĐTTTT) thêm nữa thì tỉ lệ tử vong có thể lên tới 50%7. Mặt khác, dù bệnh nhân sống sót thì chức năng thận có thể sẽ không phục hồi hoàn toàn trước khi xuất viện và có nguy cơ tiến triển thành bệnh thận mạn sau này, đôi khi cần phải phụ thuộc vào ĐTTTT lâu dài8. Một khi phải phụ thuộc vào ĐTTTT thì chi phí dành cho y tế mà bệnh nhân phải chi trả sẽ tăng lên, đồng thời chất lượng cuộc sống cũng bị sẽ bị giảm sút 9. Ngoài những gánh nặng đó thì tỉ lệ tử vong tại thời điểm một năm sau xuất viện ở nhóm không hồi phục chức năng thận (HPCNT) hoàn toàn, phải phụ thuộc vào ĐTTTT sẽ cao hơn so với các bệnh nhân không bị TTTC4,10.
Hiện nay vẫn chưa có các biện pháp điều trị đặc hiệu nào giúp HPCNT ở những bệnh nhân SNK có kèm TTTC cần phải ĐTTTT, do đó những hiểu biết về tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến HPCNT ở nhóm bệnh nhân này là quan trọng. Vì nó sẽ tạo tiền đề trong việc hình thành các mô hình tiên lượng, phát triển các biện pháp dự phòng, can thiệp để cải thiện tỉ lệ HPCNT được tốt hơn. 2 Mặc dù trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu khảo sát HPCNT nhưng những nghiên cứu này vẫn còn một số hạn chế nhất định về định nghĩa kết cục HPCNT. Đồng thời tại Việt Nam cũng chưa có nhiều nghiên cứu nào về HPCNT trên các đối tượng bệnh nhân SNK có TTTC cần ĐTTTT.
Chính vì vậy, rất cần thiết có một nghiên cứu cụ thể để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu “Tỉ lệ hồi phục chức năng thận ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có tổn thương thận cấp cần phải điều trị thay thế thận liên tục là bao nhiêu? Các yếu tố nào có liên quan tới vấn đề này? ”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỉ lệ hồi phục chức năng thận ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có tổn thương thận cấp cần phải điều trị thay thế thận liên tục 2. Xác định các yếu tố liên quan tới kết cục hồi phục chức năng thận ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có tổn thương thận cấp cần phải điều trị thay thế thận liên tục.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Sốc nhiễm khuẩn và tổn thƣơng thận cấp Theo định nghĩa đồng thuận quốc tế về nhiễm khuẩn huyết (NKH) và sốc nhiễm khuẩn (SNK) lần thứ ba thì NKH được định nghĩa là tình trạng rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tới tính mạng gây ra bởi bất thường đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân đối với nhiễm khuẩn2. Còn SNK được định nghĩa như là một bệnh cảnh nặng của NKH, trong đó ngoài những rối loạn chức năng cơ quan ra thì còn có những rối loạn về mặt huyết động cũng như là chuyển hóa tế bào nặng nề khiến cho nguy cơ tử vong của bệnh nhân tăng lên đáng kể so với NKH đơn thuần2. Trên lâm sàng, chúng ta có thể chẩn đoán SNK dựa theo định nghĩa đồng thuận lần thứ ba khi bệnh nhân có đầy đủ những tiêu chuẩn sau đây (1) bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn hay đã xác định có nhiễm khuẩn (2) điểm Sequential Organ Failure Assessment (SOFA) tăng cấp tính ≥ 2 điểm so với mức nền (bảng 1.1) (3) lactate huyết thanh ≥ 2 mmol/L (4) tụt huyết áp kéo dài cần phải sử dụng thuốc vận mạch để duy trì huyết áp trung bình ≥ 65 mmHg dù đã bù đủ dịch2.
Mặt khác, theo hướng dẫn của Kidney Disease Improving Global Outcomes (KDIGO) vào năm 201211, TTTC được xác định khi thỏa một trong các tiêu chuẩn sau đây (1) gia tăng nồng độ creatinine huyết thanh 0,3 mg/dL so với mức nền của bệnh nhân trong vòng 48 giờ (2) gia tăng nồng độ creatinine huyết thanh gấp 1,5 lần so với mức nền của bệnh nhân trong vòng 7 ngày (3) thể tích nước tiểu của bệnh nhân < 0,5 mL/kg/giờ trong vòng 6 giờ. Do đó, tại các khoa HSCC hiện nay, TTTC thường được chẩn đoán bằng cách theo dõi lượng nước tiểu liên tục và nồng độ creatinine huyết thanh mỗi 24- 48 giờ. Đồng thời, khuyến cáo của KDIGO 2012 cũng đưa ra những tiêu chuẩn để phân loại giai đoạn tổn thương thận cấp dựa vào. 5 lượng nước tiểu và sự thay đổi của nồng độ creatinine huyết thanh theo thời gian (bảng 1.1: Thang điểm Sequential Organ Failure Assessment12 Điểm 0 1 2 3 4 PaO2/FiO2 > 400 ≤ 400 ≤ 300 ≤ 200 và cần ≤ 100 và cần hỗ trợ hô hấp hỗ trợ hô hấp Tiểu cầu > 150 ≤ 150 ≤ 100 ≤ 50 ≤ 20 (103/mL) Bilirubin < 20 20- 32 33- 101 102- 204 > 204 (mcmol/L) Huyết áp và Không Huyết Dopamine ≤ Dopamine > Dopamine > thuốc vận tụt huyết áp trung 5 hoặc có 5 hoặc 15 hoặc mạch áp và bình < dùng Adrenaline ≤ Adrenaline > (mcg/kg/phút) không 70 Dobutamine 0,1 hoặc 0,1 hoặc cần mmHg Noradrenaline Noradrenaline dùng ≤ 0,1 > 0,1 vận mạch Điểm 15 13- 14 10- 12 6- 9 <6 Glasgow.
6 Creatinine < 110 110- 170 171- 299 300- 440 hoặc > 440 hoặc huyết thanh nước tiểu < nước tiểu < hoặc lƣợng 500 mL/24 200 mL/24 nƣớc tiểu giờ giờ (mcmol/L) Bảng 1.2: Các giai đoạn của tổn thƣơng thận cấp theo Kidney Disease Improving Global Outcomes 201211 Giai đoạn Lƣợng nƣớc tiểu Thay đổi Creatinine huyết thanh (SCr) theo thời gian 1 < 0,5 mL/kg/giờ trong 6 SCr tăng ≥ 0,3 mg/dL giờ hoặc tăng 1,5- 1,9 lần so với giá trị nền 2 < 0,5 mL/kg/giờ trong > SCr tăng gấp 2- 2,9 lần so 12 giờ với giá trị nền 3 < 0,3 mL/kg/giờ trong 24 SCr tăng gấp 3 lần so với giờ hoặc vô niệu trong 12 giá trị nền hoặc SCr ≥ 4 giờ. mg/dL hoặc bắt đầu điều trị thay thế thận hoặc ở bệnh nhân < 18 tuổi, giảm độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) < 35 mL/phút/1,73 m2 da Vì là một bệnh cảnh nặng của NKH, cho nên SNK có thể đi kèm với những rối loạn chức năng cơ quan như tổn thương thận cấp (TTTC). Thực tế, có nhiều bệnh nhân vừa thỏa định nghĩa SNK vừa thỏa định nghĩa TTTC trên lâm sàng. Uớc tính có tới khoảng 50% bệnh nhân TTTC là do SNK.
Đồng thời, có tới khoảng 40%. 7 bệnh nhân NKH và 60% bệnh nhân SNK có TTTC kèm theo13-15. Sinh lý bệnh của SNK kèm TTTC do rất nhiều yếu tố tương tác với nhau và đến nay còn chưa được hiểu rõ. Nhưng vai trò tương tác của hệ thống tăng viêm và hệ thống kháng viêm đáp ứng đối với tình trạng nhiễm khuẩn có lẽ là quan trọng nhất.
Những đáp ứng này làm thay đổi cả tuần hoàn đại thể và vi thể tại thận. Từ đó bệnh nhân SNK cỏ nguy cơ cao bị TTTC kèm theo4,14. Có rất nhiều các yếu tố nguy cơ khiến bệnh nhân SNK bị TTTC. Một bệnh nhân 65 tuổi sẽ có nguy cơ vào TTTC gấp 1,5 lần16, có bệnh thận mạn trước đó thì nguy cơ sẽ gấp 2,9- 6,2 lần17, mang tiền căn đái tháo đường sẽ có nguy cơ gấp 10,3 lần18, có suy tim kèm theo mang lại nguy cơ gấp 2,1- 24 lần16,18,19.
Đồng thời đợt bệnh này mà cần thở máy thì sẽ có nguy cơ tử vong do TTTC gấp 5,1 lần20. Từ đó làm cho chúng ta gặp khó khăn trong việc dự đoán tiến triển cũng như hình thành chiến lược phòng ngừa tình trạng này. Một khi mắc SNK thì tỉ lệ tử vong của bệnh nhân trong vòng 30 ngày có thể lên tới 34,7% và tỉ lệ tử vong trong vòng 90 ngày có thể lên tới 38,5%3. Mặt khác, TTTC cũng là một yếu tố liên quan độc lập tới nguy cơ tử vong nội viện21.
Nếu so với TTTC do các nguyên nhân khác thì bệnh nhân bị TTTC kèm SNK sẽ có nguy cơ tử vong nội viện cao gấp 1,48 lần, cùng với đó là thời gian nằm viện cũng dài hơn (37 so với 21 ngày)4,22. Hơn thế nữa, cứ năm bệnh nhân SNK kèm TTTC sẽ có một bệnh nhân cần phải ĐTTTT. Một khi bệnh nhân phải dùng ĐTTTT thì tỉ lệ tử vong của bệnh nhân lúc này có thể lên tới 40- 50%18,23-26. Đặc biệt khi kèm suy chức năng của các cơ quan khác nữa như hô hấp, suy tim thì tỉ lệ tử vong có thể lên tới 60- 80% 18,23-26.
Ngoài những nguy cơ cấp tính, bệnh nhân TTTC đã phục hồi vẫn còn có nguy cơ bị TTTC tái phát. Cụ thể, có tới 32% bệnh nhân SNK phục hồi sau TTTC sẽ bị TTTC tái phát trong nội viện27. Không những thế, bệnh nhân SNK có TTTC kèm theo sẽ có nguy cơ tiến triển thành bệnh thận mạn trong vòng 1 năm sắp tới với tỉ lệ có thể lên tới 30%8. Đồng thời, tỉ lệ tử vong trong vòng 3 năm tới có thể lên tới 28%10.
Hồi phục chức năng thận ở bệnh nhân tổn thƣơng thận cấp Cơ chế HPCNT sau TTTC còn chưa rõ ràng nhưng có thể liên quan tới việc tái tạo lại các tế bào ống thận từ tế bào gốc và sự tăng hoạt bù trừ của các tế bào ống thận nguyên vẹn. Do đó số lượng của các tế bào gốc còn sót lại sau đợt TTTC có liên quan tới tiên lượng HPCNT. Tuy nhiên lại khó có thể đánh giá chính xác vấn đề này trên lâm sàng. Nên các y văn hiện nay chủ yếu tập trung vào việc định nghĩa HPCNT là như thế nào, từ đó mô tả các kiểu hình HPCNT và tìm các yếu tố tiên lượng cũng như liên quan đến vấn đề này 27,28.
Nghiên cứu của John Kellum27 và các cộng sự công bố vào năm 2017 đã thực hiện trên hơn 16 968 bệnh nhân TTTC giai đoạn 2 và giai đoạn 3 theo tiêu chuẩn của KDIGO 2012.