Tổng quan luận án
Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng giới và sự tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động là một trong những trụ cột quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tại Việt Nam, các đánh giá quốc tế của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 2021) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC, 2017) cho thấy quốc gia đạt được nhiều kết quả tích cực về bình đẳng giới so với các nền kinh tế có cùng trình độ phát triển. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ Việt Nam đạt khoảng 69%, so với 79,9% ở nam giới (Tổng cục Thống kê, 2021b), tạo ra mức chênh lệch 10% – thấp hơn đáng kể so với mức bình quân toàn cầu là 25% (Cunningham và cộng sự, 2018; ILO, 2015c).
Tuy nhiên, thị trường lao động Việt Nam vẫn tồn tại những rào cản mang tính cơ cấu và định kiến giới:
- Lao động nữ có mức thu nhập trung bình thấp hơn khoảng 10% so với lao động nam ở cùng trình độ chuyên môn kỹ thuật (ADB, 2016; Buchhave và cộng sự, 2020), dù số giờ làm việc giữa hai giới là tương đương (Barcucci và cộng sự, 2021).
- Tồn tại "bức trần kính" ngăn cản phụ nữ tiếp cận các vị trí lãnh đạo then chốt; phụ nữ chủ yếu đảm nhiệm các vị trí quản lý hỗ trợ như nhân sự và hành chính (65%), tài chính (52%), trong khi các vị trí chiến lược như quản lý lợi nhuận và thua lỗ chỉ có 16% phụ nữ tham gia (ILO, 2020).
- Gánh nặng công việc gia đình không lương đè nặng lên phụ nữ với thời gian thực hiện trung bình 20,2 giờ/tuần, gấp gần hai lần nam giới (10,7 giờ/tuần) (Barcucci và cộng sự, 2021); tỷ lệ nữ giới không hoạt động kinh tế vì lý do nội trợ chiếm tới hơn 96% qua các năm (Tổng cục Thống kê, 2012, 2016, 2021b).
- Tỷ lệ phụ nữ làm lao động gia đình không hưởng lương cao gấp đôi nam giới (năm 2019 ghi nhận 5 triệu lao động nữ so với 2,7 triệu lao động nam thuộc nhóm này) (Tổng cục Thống kê, 2021a).
- Bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại: Kim ngạch xuất khẩu so với GDP của Việt Nam tăng từ 6,6% năm 1986 lên hơn 100% vào năm 2017 (World Bank, 2022); phụ nữ chiếm 53% việc làm sản xuất phục vụ xuất khẩu trực tiếp vào năm 2012 (Hollweg, 2017). Mặc dù thương mại quốc tế tạo ra nhiều cơ hội việc làm chính thức, sự chuyển dịch sang các ngành hàng xuất khẩu công nghệ cao (như máy móc lớn) lại có xu hướng thâm dụng lao động nam, tạo nên những thách thức mới cho lao động nữ.
Khoảng trống nghiên cứu
- Khoảng trống lý thuyết: Các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận độc lập giữa lý thuyết kinh tế học phân biệt đối xử (Becker, 1971; Arrow, 1973; Phelps, 1972) và lý thuyết về khoảng cách giới, mức sinh và tăng trưởng (Galor & Weil, 1996), thiếu vắng một khung phân tích tích hợp đồng thời cả phía cầu (doanh nghiệp) và phía cung (hộ gia đình).
- Khoảng trống thực nghiệm: Phần lớn các công trình tập trung giải thích chênh lệch tiền lương theo giới, ít đo lường mức độ phân biệt đối xử về mặt việc làm (số lượng và tỷ lệ việc làm); đồng thời chủ yếu sử dụng dữ liệu vĩ mô thay vì khai thác dữ liệu vi mô cấp doanh nghiệp và hộ gia đình.
- Khoảng trống đo lường: Tác động của thương mại quốc tế ở cấp độ hộ gia đình thường bị bỏ qua hoặc đo lường chưa toàn diện do các chỉ số cũ chỉ phản ánh thu nhập gián tiếp mà bỏ qua tính nội sinh và khả năng thích ứng của hộ gia đình (Squalli & Wilson, 2011; Cavallo & Frankel, 2008).
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định mối tương quan giữa thương mại quốc tế và sự tham gia vào lực lượng lao động của phụ nữ ở cấp độ doanh nghiệp và cấp độ hộ gia đình tại Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể gồm ba nội dung:
- Mục tiêu 1: Xác định nguyên nhân chênh lệch giới trong việc làm tại các doanh nghiệp ở Việt Nam và đo lường mức độ phân biệt đối xử theo giới trong việc làm.
- Mục tiêu 2: Đánh giá tác động của thương mại quốc tế và việc mở rộng hoạt động xuất khẩu đến sự tham gia vào lực lượng lao động của phụ nữ ở cấp độ doanh nghiệp Việt Nam.
- Mục tiêu 3: Xem xét ảnh hưởng đồng thời của thương mại quốc tế và mức sinh đến khoảng cách giới trong lực lượng lao động hộ gia đình tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
- Nhóm câu hỏi cho Mục tiêu 1:
- Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến sự tham gia vào lực lượng lao động của phụ nữ tại Việt Nam ở cấp độ doanh nghiệp?
- Nếu so sánh nhóm ngành thâm dụng lao động nam và nhóm ngành thâm dụng lao động nữ, phần chênh lệch giới trong việc làm đối với lao động nữ được giải thích do phân biệt đối xử là bao nhiêu?
- Nhóm câu hỏi cho Mục tiêu 2:
- Liệu thương mại quốc tế và việc mở rộng hoạt động xuất khẩu tại các doanh nghiệp có giúp gia tăng sự tham gia vào lực lượng lao động của phụ nữ ở cấp độ doanh nghiệp hay không?
- Nhóm câu hỏi cho Mục tiêu 3:
- Mức độ tham gia vào thương mại quốc tế của hộ gia đình được đo lường như thế nào?
- Thương mại quốc tế và mức sinh tác động đến khoảng cách giới trong lực lượng lao động hộ gia đình ở Việt Nam như thế nào?
- Những nhân tố nào khác có ảnh hưởng đến khoảng cách giới trong lực lượng lao động hộ gia đình ở Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia vào lực lượng lao động của phụ nữ (đo lường qua số lượng, tỷ lệ lao động nữ tại doanh nghiệp; số giờ làm việc và tiền lương của phụ nữ trong hộ gia đình).
- Phạm vi không gian: Cấp độ doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và cấp độ hộ gia đình trên phạm vi toàn quốc tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian:
- Cấp doanh nghiệp: Giai đoạn 2011 - 2015 từ bộ dữ liệu Khảo sát doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam (VN SME Survey).
- Cấp hộ gia đình: Giai đoạn 2002 - 2016 từ các kỳ Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
Luận án thực hiện tổng quan hệ thống các dòng lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước:
- Kinh tế học phân biệt đối xử:
- Becker (1957, 1971) xây dựng mô hình phân biệt đối xử dựa trên khẩu vị (taste-based discrimination), đưa ra khái niệm "hệ số phân biệt đối xử" (DC) nhằm lượng hóa phần chi phí phi tiền tệ mà người sử dụng lao động, người lao động hoặc khách hàng sẵn sàng trả để duy trì sự thiên kiến.
- Arrow (1973) và Phelps (1972) phát triển mô hình phân biệt đối xử thống kê (statistical discrimination) dựa trên tình trạng bất cân xứng thông tin, khi người tuyển dụng sử dụng các đặc điểm nhân khẩu nhóm (giới tính, màu da) làm đại diện cho năng suất chưa quan sát được của cá nhân.
- Blinder (1973), Oaxaca (1973), Cotton (1988), Oaxaca & Ransom (1994) xây dựng kỹ thuật phân rã phương sai để bóc tách chênh lệch giữa phần "giải thích được" (do đặc điểm năng suất) và "không giải thích được" (gán cho phân biệt đối xử).
- Phân công lao động gia đình và khoảng cách giới:
- Galor & Weil (1996) phân tích mối quan hệ giữa tích lũy vốn, khoảng cách tiền lương theo giới, mức sinh và tăng trưởng kinh tế, chỉ ra rằng mức sinh tạo ra sự đánh đổi giữa việc sinh con và cung lao động của phụ nữ.
- Các nghiên cứu của Presser (1994), Brines (1994), Coltrane (2000), Bianchi và cộng sự (2000), Barcucci và cộng sự (2021) xác nhận rằng phụ nữ luôn phải đảm nhiệm phần lớn công việc nội trợ và chăm sóc không lương, dù tỷ lệ tham gia lao động trả lương đã tăng cao.
- Thương mại quốc tế và thị trường lao động giới:
- Winters (2002), Winters và cộng sự (2004) thiết lập khung phân tích về tác động của cải cách thương mại đến phúc lợi hộ gia đình qua các kênh giá cả, tiền lương, việc làm và thuế quan.
- Helpman và cộng sự (2010, 2017), Busse (2002), Slaughter (2001) chứng minh hội nhập thương mại tái cấu trúc việc làm và làm thay đổi khoảng cách bất bình đẳng theo đặc điểm cá nhân.
- Ederington và cộng sự (2009) chỉ ra cạnh tranh thương mại tác động đến phân biệt đối xử qua hai cơ chế đối nghịch: hiệu ứng co giãn (làm tăng chi phí phân biệt đối xử, tăng tuyển dụng nữ) và hiệu ứng quy mô (thu hẹp quy mô, giảm chi phí phân biệt đối xử).
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Luận án định vị nghiên cứu thông qua việc kết hợp đồng thời cả phía cầu lao động (doanh nghiệp) và phía cung lao động (hộ gia đình). Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống về đo lường tác động của thương mại quốc tế ở cấp độ vi mô hộ gia đình bằng việc ứng dụng bộ chỉ số mới của Vo & Nguyen (2021), khắc phục nhược điểm bỏ qua tính nội sinh và phản ứng thích ứng của các nghiên cứu trước (Squalli & Wilson, 2011; Cavallo & Frankel, 2008).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên ba trụ cột lý thuyết:
- Lý thuyết phân biệt đối xử trong kinh tế học: So sánh cơ chế vận hành giữa mô hình dựa trên khẩu vị và mô hình thống kê.
| Tiêu chí |
Mô hình dựa trên khẩu vị (Taste-based) |
Mô hình thống kê (Statistical) |
| Đại diện tiêu biểu |
Becker (1957, 1971) |
Arrow (1973), Phelps (1972) |
| Nguyên nhân chính |
Khẩu vị cá nhân, sở thích thành kiến đối với nhóm thiểu số |
Tình trạng bất cân xứng thông tin về năng suất của ứng viên |
| Mục tiêu của người sử dụng lao động |
Tối ưu hóa hàm hữu dụng $U(\pi, W, B)$ (chấp nhận đánh đổi lợi nhuận) |
Tối đa hóa lợi nhuận kỳ vọng trong điều kiện thông tin không hoàn hảo |
| Cơ chế tác động |
Chi trả thêm hệ số phân biệt đối xử ($d_E$) để tránh nhóm bị phân biệt |
Sử dụng đặc điểm nhóm (giới tính) để suy đoán năng suất cá nhân |
| Giải pháp thị trường |
Cạnh tranh hoàn hảo dài hạn sẽ đào thải các doanh nghiệp phân biệt đối xử |
Cung cấp thêm thông tin hồ sơ, giảm chi phí kiểm tra năng lực |
| Nhược điểm lý thuyết |
Không giải thích được nguồn gốc hình thành khẩu vị phân biệt đối xử |
Việc sử dụng thống kê nhóm để phân loại cá nhân bị coi là bất hợp pháp |
- Lý thuyết của Galor & Weil (1996): Vốn bổ sung mạnh hơn cho lao động nữ so với lao động nam, nâng cao mức lương tương đối của nữ, làm tăng chi phí cơ hội của việc sinh con, dẫn tới giảm mức sinh và thúc đẩy tăng trưởng.
- Khung phân tích của Winters (2002): Đánh giá đường truyền dẫn tác động của thương mại quốc tế tới phúc lợi hộ gia đình qua tiền lương, việc làm và giá hàng hóa.
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
[Phía Cầu Lao Động] [Phía Cung Lao Động]
Doanh Nghiệp (VN SME Survey) Hộ Gia Đình (VHLSS)
- FGLS & Oaxaca-Blinder - Hồi quy IV & MI
- Propensity Score Matching - Chỉ số thương mại Vo & Nguyen (2021)
Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu thực nghiệm
| Công trình / Chương |
Phương pháp phân tích |
Nguồn dữ liệu |
Biến phụ thuộc chính |
Biến giải thích trọng tâm |
| Bài báo 1 (Chương 3) |
- Bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) - Phân rã Oaxaca - Blinder |
Khảo sát Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam (VN SME Survey) 2011 - 2015 |
- Số lượng lao động nữ - Tỷ lệ lao động nữ trong DN |
Xuất khẩu, vốn nhân lực, vốn bình quân, đãi ngộ, đặc điểm chủ DN |
| Bài báo 2 (Chương 4) |
- So khớp điểm xu hướng (PSM) - Hồi quy Probit theo mức độ xuất khẩu |
Khảo sát Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam (VN SME Survey) 2011 - 2015 |
- Số lượng lao động nữ - Tỷ lệ lao động nữ trong DN |
Tình trạng xuất khẩu, tần suất duy trì xuất khẩu (thường xuyên, ít thường xuyên) |
| Bài báo 3 (Chương 5) |
- Hồi quy biến công cụ (IV) - Thay thế lặp (Multiple Imputation - MI) |
Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam (VHLSS) giai đoạn 2002 - 2016 |
- Khoảng cách giới về thời gian làm việc - Khoảng cách giới về tiền lương |
Chỉ số tham gia thương mại của hộ gia đình (theo giá trị XK và thuế quan), mức sinh |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập tổng thể bức tranh nghiên cứu, trình bày bối cảnh lý luận và thực tiễn hội nhập của Việt Nam. Tác giả chỉ ra mâu thuẫn giữa tỷ lệ tham gia lao động tương đối cao của phụ nữ với sự tồn tại dai dẳng của chênh lệch thu nhập, sự bất bình đẳng trong phân công lao động việc nhà không lương và sự phân tầng nghề nghiệp. Trên cơ sở đó, chương này xác định 3 mục tiêu cụ thể, 5 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi đối tượng và cấu trúc tổng thể gồm 6 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Chương này tổng thuật chi tiết các lý thuyết nền tảng về kinh tế học phân biệt đối xử (Becker, Arrow, Phelps), lý thuyết phân công lao động gia đình và mô hình Galor & Weil (1996), cùng khung phân tích tác động thương mại của Winters (2002). Tác giả hệ thống hóa các bằng chứng thực nghiệm quốc tế và Việt Nam, chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu về việc làm, dữ liệu vi mô và phương pháp đo lường thương mại cấp hộ gia đình, từ đó đề xuất khung phân tích tích hợp cung - cầu.
Chương 3: Bài báo 1 - Chênh lệch giới trong việc làm tại các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3 tập trung giải quyết Mục tiêu 1 bằng việc sử dụng mô hình FGLS và kỹ thuật phân rã Oaxaca - Blinder trên tập dữ liệu VN SME Survey (2011 - 2015):
- Các nhân tố tác động cùng chiều đến sự tham gia của lao động nữ tại doanh nghiệp: Hoạt động xuất khẩu, mức đầu tư cho vốn nhân lực, đặc điểm ngành nghề, quy mô doanh nghiệp, thời gian hoạt động của doanh nghiệp, giới tính chủ doanh nghiệp (chủ là nữ làm tăng việc làm nữ) và vốn xã hội của người chủ.
- Các nhân tố tác động ngược chiều: Chế độ đãi ngộ lao động và lượng vốn bình quân trên một lao động (doanh nghiệp có hàm lượng vốn cao có xu hướng sử dụng ít lao động nữ hơn).
- Kết quả phân rã Oaxaca - Blinder:
- Yếu tố phân biệt đối xử về giới giải thích 26,11% sự khác biệt về số lượng lao động nữ giữa nhóm ngành thâm dụng lao động nam và nhóm ngành thâm dụng lao động nữ.
- Yếu tố phân biệt đối xử về giới giải thích tới 87,78% sự khác biệt về tỷ lệ lao động nữ so với tổng số lao động giữa hai nhóm ngành.
Chương 4: Bài báo 2 - Thương mại quốc tế và sự tham gia của lao động nữ tại các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 4 giải quyết Mục tiêu 2, phân tích tác động của mở rộng thương mại bằng phương pháp so khớp điểm xu hướng (PSM) kết hợp hồi quy Probit theo các mức độ xuất khẩu:
- Doanh nghiệp tham gia xuất khẩu có mức độ sử dụng lao động nữ cao hơn có ý nghĩa thống kê so với doanh nghiệp không xuất khẩu, xét trên cả phương diện quy mô tuyệt đối (số lượng lao động nữ) và tỷ trọng tương đối (tỷ lệ lao động nữ trong tổng lao động).
- Tính liên tục của hoạt động xuất khẩu giữ vai trò quan trọng: Các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu thường xuyên và liên tục qua các năm tạo ra tác động tích cực và bền vững nhất trong việc gia tăng việc làm cho phụ nữ, đồng thời góp phần thu hẹp sự phân biệt đối xử về cơ hội việc làm tại doanh nghiệp.
Chương 5: Bài báo 3 - Chênh lệch giới trong lực lượng lao động hộ gia đình Việt Nam: Vai trò của thương mại quốc tế và mức sinh
Chương 5 giải quyết Mục tiêu 3 trên bộ dữ liệu VHLSS (2002 - 2016) bằng phương pháp hồi quy biến công cụ (IV) với chỉ số tham gia thương mại của Vo & Nguyen (2021):
- Tác động của mức sinh và con nhỏ: Việc có con nhỏ là rào cản nghiêm trọng kiềm chế phụ nữ gia nhập thị trường lao động. Tỷ lệ thời gian làm việc của người vợ so với người chồng chỉ bắt đầu gia tăng khi con đã trên 6 tuổi.
- Tác động tương hỗ giữa thương mại và mức sinh: Khi con trên 6 tuổi, cả thương mại quốc tế và mức sinh đều tác động làm giảm khoảng cách giới về thời gian làm việc trong hộ gia đình.
- Khoảng cách tiền lương: Tác động của thương mại quốc tế có ý nghĩa thống kê rõ nét và vượt trội hơn so với tác động của mức sinh trong việc thu hẹp khoảng cách tiền lương theo giới.
- Các biến kiểm soát khác: Trình độ học vấn của người vợ có tương quan thuận với việc tham gia thị trường lao động; thu nhập của người chồng và sự hiện diện của người thân sống cùng có khả năng hỗ trợ chăm sóc con cái tạo điều kiện tích cực giúp phụ nữ đi làm.
Chương 6: Kết luận và kiến nghị
Chương 6 tổng hợp toàn bộ các phát hiện chính từ ba bài báo nghiên cứu, đối chiếu với các giả thuyết ban đầu, trình bày các đóng góp mới về lý luận và thực nghiệm, nêu rõ hạn chế của đề tài và đề xuất các nhóm khuyến nghị chính sách cụ thể.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã tổng quan và đúc kết có hệ thống các lý thuyết kinh tế học phân biệt đối xử và lý thuyết khoảng cách giới, xây dựng một khung phân tích thống nhất kết nối đồng thời cả phía cung (hộ gia đình) và phía cầu (doanh nghiệp) trên thị trường lao động.
- Mở rộng cơ chế giải thích phân biệt đối xử sang khía cạnh việc làm (số lượng và tỷ lệ lao động), bổ sung cho dòng nghiên cứu truyền thống vốn chỉ tập trung vào phân biệt đối xử về tiền lương.
Đóng góp mới về mặt thực nghiệm
- Ứng dụng thành công phương pháp phân rã Oaxaca - Blinder để xác định chính xác tỷ lệ phân biệt đối xử giải thích 26,11% chênh lệch số lượng lao động nữ và 87,78% chênh lệch tỷ lệ lao động nữ giữa các nhóm ngành tại Việt Nam.
- Sử dụng kỹ thuật PSM chứng minh tác động nhân quả tích cực của hoạt động xuất khẩu và tính liên tục trong xuất khẩu đối với cơ hội việc làm của phụ nữ tại các DNNVV.
- Ứng dụng bộ chỉ số mới của Vo & Nguyen (2021) dựa trên giá trị xuất khẩu và thuế quan kết hợp mô hình IV, xử lý triệt để vấn đề nội sinh và phản ánh chính xác mức độ tham gia thương mại của hộ gia đình.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách:
- Tiếp tục thúc đẩy chính sách tự do hóa thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là các ngành hàng tạo nhiều việc làm cho phụ nữ.
- Hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội, phát triển hệ thống nhà trẻ, dịch vụ chăm sóc trẻ em công lập và tư thục với chi phí hợp lý nhằm giải phóng thời gian cho phụ nữ có con nhỏ dưới 6 tuổi.
- Thúc đẩy các chương trình đào tạo kỹ năng nghề và kỹ thuật công nghệ cao cho lao động nữ nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu sang các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao.
- Tăng cường thực thi Luật Bình đẳng giới, xóa bỏ định kiến giới trong tuyển dụng và trả lương tại khu vực doanh nghiệp.
- Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp:
- Xây dựng quy trình tuyển dụng và đánh giá năng lực minh bạch, phi định kiến; tạo điều kiện cho lao động nữ tiếp cận các chương trình đào tạo nâng cao trình độ.
- Thiết lập môi trường làm việc linh hoạt, hỗ trợ lao động nữ trong thời kỳ thai sản và nuôi con nhỏ nhằm giảm thiểu sự gián đoạn nghề nghiệp.
- Khuyến khích và tạo cơ hội thăng tiến cho phụ nữ vào các vị trí quản lý chiến lược và điều hành then chốt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Phạm vi dữ liệu doanh nghiệp: Dữ liệu VN SME Survey chỉ khảo sát các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, chưa bao quát được toàn bộ các doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp FDI và khối ngành dịch vụ.
- Đo lường phân biệt đối xử: Phương pháp phân rã Oaxaca - Blinder quy phần sai số không giải thích được cho phân biệt đối xử, có thể chứa đựng một số yếu tố năng suất tiềm ẩn chưa quan sát được trong bộ dữ liệu.
- Thời gian dữ liệu: Chuỗi dữ liệu phân tích dừng lại ở giai đoạn 2015 (đối với doanh nghiệp) và 2016 (đối với hộ gia đình), chưa phản ánh đầy đủ các biến động kinh tế - xã hội phức tạp trong giai đoạn đại dịch COVID-19 và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và khu vực dịch vụ xuất khẩu.
- Cập nhật chuỗi dữ liệu VHLSS và điều tra doanh nghiệp đến các năm gần nhất để đánh giá tác động dài hạn của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và bối cảnh hậu đại dịch.
- Đi sâu phân tích các cơ chế vi mô bên trong hộ gia đình liên quan đến quyền ra quyết định tài chính và thương lượng phân bổ thời gian giữa vợ và chồng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế lao động, Kinh tế quốc tế: Cung cấp khung lý thuyết chuẩn mực về kinh tế học phân biệt đối xử, quy trình áp dụng các phương pháp kinh tế lượng vi mô chuyên sâu như FGLS, phân rã Oaxaca - Blinder, So khớp điểm xu hướng (PSM) và Hồi quy biến công cụ (IV).
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo toàn diện về thị trường lao động Việt Nam, phương pháp luận đo lường tác động thương mại cấp hộ gia đình theo Vo & Nguyen (2021).
- Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: Cung cấp các bằng chứng thực nghiệm xác thực về sự chênh lệch giới, rào cản con nhỏ dưới 6 tuổi và vai trò của mở rộng xuất khẩu, phục vụ cho việc thiết kế các chính sách an sinh xã hội và lồng ghép giới vào chính sách thương mại.
Câu hỏi thường gặp
1. Phân biệt đối xử về giới giải thích bao nhiêu phần trăm sự chênh lệch việc làm của lao động nữ tại các doanh nghiệp Việt Nam?
Theo kết quả phân rã Oaxaca - Blinder ở Chương 3, yếu tố phân biệt đối xử về giới giải thích 26,11% sự khác biệt về số lượng lao động nữ và giải thích tới 87,78% sự khác biệt về tỷ lệ lao động nữ so với tổng số lao động khi so sánh giữa các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thâm dụng lao động nam và nhóm ngành thâm dụng lao động nữ.
2. Hoạt động xuất khẩu tác động như thế nào đến việc làm của lao động nữ tại doanh nghiệp?
Hoạt động xuất khẩu có tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến sự tham gia của lao động nữ cả về quy mô số lượng và tỷ lệ phần trăm trong doanh nghiệp. Đáng chú ý, các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu liên tục và thường xuyên qua các năm đạt hiệu quả cao nhất trong việc mở rộng việc làm cho phụ nữ và giảm thiểu định kiến tuyển dụng.
3. Mức sinh và việc nuôi con nhỏ ảnh hưởng thế nào đến cung lao động của phụ nữ trong hộ gia đình?
Việc có con nhỏ là rào cản lớn ngăn cản người phụ nữ tham gia thị trường lao động. Tỷ lệ thời gian làm việc của người vợ so với người chồng chỉ bắt đầu gia tăng khi người con đã qua 6 tuổi. Khi con vượt qua mốc 6 tuổi, cả thương mại quốc tế và mức sinh đều phát huy tác động làm giảm khoảng cách giới về thời gian làm việc.
4. Luận án sử dụng những bộ dữ liệu nào để phân tích thực nghiệm?
Luận án kết hợp hai bộ dữ liệu vi mô độc lập:
- Bộ dữ liệu Khảo sát doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ tại Việt Nam (VN SME Survey) giai đoạn 2011 - 2015 do UNU-WIDER phối hợp CIEM, ILSSA và DoE thực hiện.
- Bộ dữ liệu Điều tra mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS) giai đoạn 2002 - 2016 do Tổng cục Thống kê (GSO) phối hợp cùng Ngân hàng Thế giới (WB) và UNDP thực hiện.
5. Chỉ số đo lường mức độ tham gia thương mại của hộ gia đình trong luận án có điểm gì đặc biệt?
Luận án áp dụng bộ chỉ số do Vo & Nguyen (2021) đề xuất, đo lường mức độ tham gia thương mại quốc tế của hộ gia đình dựa trên giá trị hàng hóa xuất khẩu và mức thuế quan. Cách tiếp cận này giúp khắc phục nhược điểm của các chỉ số thương mại truyền thống nhờ kiểm soát được tính nội sinh và tính toán đến khả năng thích ứng của hộ gia đình trước những thay đổi chính sách thương mại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trương Thiết Hà đã làm rõ mối tương quan đa chiều giữa tự do hóa thương mại quốc tế và vấn đề phân biệt đối xử theo giới trong lực lượng lao động tại Việt Nam trên cả hai cấp độ doanh nghiệp và hộ gia đình. Bằng việc kết hợp các phương pháp kinh tế lượng vi mô chặt chẽ gồm FGLS, phân rã Oaxaca - Blinder, PSM và hồi quy IV trên các bộ dữ liệu VN SME Survey và VHLSS, công trình chỉ ra rằng mở rộng xuất khẩu là động lực quan trọng thúc đẩy việc làm cho phụ nữ, tuy nhiên mức độ phân biệt đối xử trong tuyển dụng và gánh nặng chăm sóc con nhỏ dưới 6 tuổi vẫn là những rào cản thực tế lớn. Các kết quả nghiên cứu là căn cứ thực nghiệm khoa học có giá trị cao cho việc hoàn thiện chính sách thị trường lao động, an sinh xã hội và nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ trong tiến trình hội nhập quốc tế.