CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tài liệu 1. Các tài liệu Để thực hiện khóa luận với chủ “Thực trạng xuất nhập khẩu tại Việt Nam giai đoạn 2012-2022”, tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu xung quanh các chủ đề “xuất nhập khẩu” hay “phát triển kinh tế”. Cụ thể hơn, một số tài liệu có thể viện dẫn sẽ được liệt kê dưới đây.
❖ Về thực trạng xuất nhập khẩu tại Việt Nam: Nguyễn Tường Lâm (2014) với bài viết “Nhập khẩu của Việt Nam- Thực tiễn, vấn đề và giải pháp” đã phân tích thực trạng nhập khẩu (NK) trong giai đoạn 2001- 2013. Tác giả chỉ ra rằng NK của Việt Nam không ổn định qua các thời kỳ, có sự mất cân đối lớn với xuất khẩu (XK). Nhập khẩu chủ yếu là các tư liệu sản xuất, cho thấy sự yếu kém của nền công nghiệp phụ trợ trong nước. Bên cạnh đó, tác giả dự đoán các thị trường XNK sẽ ít thay đổi trong thời gian tới, gây khó khăn cho việc xác định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Lưu Huỳnh (2018) với bài viết “Thực trạng về tình hình xuất nhập khẩu của nền kinh tế Việt Nam hiện nay và giải pháp”. Bài viết đã chỉ ra một số những thay đổi của cán cân thương mại Việt Nam qua các năm như sự gia tăng mạnh mẽ của tổng KN, sự đảo chiều cán cân thương mại từ năm 2016, do Việt Nam đang ngày càng tận dụng các hiệp định hợp tác thương mại để tạo lập các thị trường mới. XNK Việt Nam có đóng góp tốt cho sự phát triển kinh tế trong thời gian qua, song chưa hết tiềm năng khi mặt “chất” còn hạn chế. Một số thách thức trong tương lai có thể xảy ra như căng thẳng địa chính trị, rủi ro kinh tế, xu hướng bảo hộ hay xu hướng cách mạng công nghiệp 4.
Downloaded by Uy vu Nguyen (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38544120 8 Nguyễn Thị Thoa (2021) với chủ đề “Xuất nhập khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay” đã đánh giá khái quát về thành tựu của XNK trong giai đoạn 2016- 2020. Tác giả đã chỉ ra rằng trao đổi thương mại của Việt Nam trong thời gian vừa qua đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng với tăng trưởng dương liên tục, xuất siêu luôn được duy trì; đáng nói hơn, đại dịch COVID-19 cho thấy khả năng thích ứng, chuyển đổi các mặt hàng XNK và sự chủ động đa dạng hóa các phương thức giao nhận hàng hóa thay thế cho đường bộ để giảm thiểu tác động của đại dịch. Tuy nhiên, các mặt hàng XK chủ lực là chế biến, chế tạo hay nông lâm thủy sản chưa có giá trị cao và phụ thuộc vào các nước như Nhật Bản, Trung Quốc hay Nga, do XNK tại Việt Nam chưa chú ý nhiều đến chất lượng, sức lan tỏa chưa cao. Năng lực cạnh tranh thấp do chúng ta thiếu các cơ quan nhằm lên kế hoạch và tìm hiểu các thị trường quốc tế, sự hỗ trợ trong việc kết nối giữa DN nội địa và DN nước ngoài nhìn chung hạn chế.
❖ Về xuất nhập khẩu tới một số thị trường nội bật: Lê Đăng Minh (2016) với chủ đề “Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc: Thực trạng, vấn đề và giải pháp” cho thấy những sự thay đổi về thực trạng thương mại giữa 2 quốc gia, với sự gia tăng gấp hơn 2.000 lần sau 25 năm, tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ tổng KN ở mức bình quân 27,4%/năm, hay sự đảo chiều của Việt Nam từ thặng dư thương mại với Trung Quốc sang thâm hụt từ năm 2000 trở đi. Thực trạng thương mại cho thấy Việt Nam đang ngày càng phụ thuộc vào thị trường này về cả xuất lẫn nhập, trong đó nhập siêu ngày càng lớn. Về cơ cấu ngành hàng, chúng ta XK sang quốc gia này khá nhiều thủy hải sản, trái cây hay công nghiệp chế biến chế tạo; trong khi đó NK nhiều phụ tùng, linh kiện và các chất thành phẩm. Cả xuất và nhập khẩu đều hạn chế trao đổi công nghệ cao, trong đó có tình trạng NK nhiều công nghệ lỗi thời và lạc hậu của Trung Quốc, khiến cho nền sản xuất nội địa không tạo ra được giá trị gia tăng (GTGT) cao và rất thiếu sự chủ động.
Thị trường Trung Quốc tiềm ẩn nhiều rủi ro khi họ có thể thao túng chất lượng, cung cầu của các sản phẩm đến từ Downloaded by Uy vu Nguyen (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38544120 9 các DN Việt Nam, hay sự thay đổi khó bắt kịp của các chính sách, cơ chế tại quốc gia này Trần Văn Hùng (2017) với chủ đề “Thương mại Việt Nam – ASEAN giai đoạn 1995-2015: Thực trạng và những vấn đề đặt ra” đã cho thấy, nhìn chung, XK Việt Nam ngày càng tận dụng tốt được các mặt hàng ưu thế như giày dép, thủy sản, cà phê hay cao su; bên cạnh đó, góp phần gia tăng sản xuất, phân phối và tiêu dùng các mặt hàng linh kiện điện tử, máy tính nhằm dần hiện đại hóa nền kinh tế. Tuy nhiên, chúng ta nhập siêu với các quốc gia ASEAN là chủ yếu, XK còn gặp nhiều thách thức do tính cạnh tranh còn thấp, các sản phẩm trong trao đổi thương mại chưa có tính đa dạng mà chủ yếu là công nghiệp nhẹ, nông sản và hải sản thô. Trong khi đó, các mặt hàng công nghệ cao còn trao đổi hạn chế, nếu có thì chủ yếu là nhập siêu. ❖ Về xuất nhập khẩu ở một số ngành nổi bật: Trần Thị Diễm Nga và Nguyễn Thị Kim Ngân (2022) với chủ đề “Tình hình xuất nhập khẩu và triển vọng phát triển ngành dệt may Việt Nam sau đại dịch COVID-19” đã phân tích các biến động của trao đổi thương mại ngành này trong giai đoạn 2015-2021.
Đại dịch COVID-19 đã giúp Việt Nam nâng cao vị thế trên trường quốc tế, năm 2020 Việt Nam đã vượt Hàn Quốc để trở thành quốc gia XK xơ sợi thứ 6 thế giới khi cầu về các mặt hàng bảo hộ thiết yếu như khẩu trang gia tăng, vượt Trung Quốc để trở thành nhà NK dệt sợi thứ 3 thế giới do kiểm soát tốt dịch bệnh hơn quốc gia tỷ dân. Xuất nhập khẩu vải và may mặc dự kiến có cơ hội từ cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung, xu hướng phục hồi mua sắm sau đại dịch hay các FTAs thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu- Việt Nam (EVFTA)… Downloaded by Uy vu Nguyen (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38544120 10 Mạnh Đức (2023) với chủ đề “Thị trường xăng dầu: Một năm dị biệt” chỉ ra rằng, Việt Nam có tình trạng vừa XK, vừa NK dầu thô, do việc khai thác dầu thô ở Việt Nam còn hạn chế khi các loại dầu khai thác được thì chưa thực sự phù hợp với công năng của hai nhà máy nên phải XK, còn các loại dầu phù hợp thì vẫn phụ thuộc nguồn cung nước ngoài. Bên cạnh đó, nỗi lo thiếu xăng dầu là thường trực trong bối cảnh quá phụ thuộc vào nguồn xăng dầu thành phẩm NK; trong khi Việt Nam cũng không phải là đối tượng ưu tiên để bán đối với các nhà cung cấp lớn trên thế giới, chủ yếu phụ thuộc vào khoảng 4-5 nước châu Á. Các chính sách của các bộ ngành còn chưa bám sát với thực tiễn trong bối cảnh giá cả biến động không ngừng với các ảnh hưởng từ căng thẳng địa chính trị giữa Nga và các nước châu Âu, chúng ta thiếu chủ động trong điều hành và bình ổn giá khiến các DN khi nhập hàng về cảng thì bị lỗ, và việc các DN bị lỗ lại dẫn đến thiếu hụt xăng dầu, tạo ra vòng luẩn quẩn.
❖ Về vai trò của xuất nhập khẩu đối với kinh tế: Bùi Xuân Lưu (1997) trong “Giáo trình Kinh tế Ngoại thương” của Trường Đại học Ngoại thương: Trong phần 2, chương II, tác giả có nêu ra các chức năng và nhiệm vụ của ngoại thương. Trong đó, một số vai trò quan trọng của XNK đối với nền kinh tế đã được nêu ra bao gồm; chuyển đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế cho phù hợp với nhu cầu và tích lũy, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh hay giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội như vốn, công nghệ hay tài nguyên có hiệu quả hơn, thúc đẩy hoàn thiện bộ máy chính trị, hoạt động ngoại giao… Giang Dang và Low Sui Pheng (2015) trong cuốn “Infrastructure Investments in Developing Economies- The Case of Vietnam”: Trong tiểu mục 4.3 của chương IV với chủ đề “International Trade and Economic Development”, các tác giả đã liệt kê ra hàng loạt quan điểm về mối quan hệ giữa trao đổi thương mại và phát triển kinh tế, từ thời kỳ chủ nghĩa trọng thương của thế kỷ XVII cho đến nay. Trải qua nhiều biến động Downloaded by Uy vu Nguyen (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38544120 11 của lịch sử, những số liệu và phân tích đều cho thấy mọi quốc gia đều phải trao đổi hàng hóa để có được tăng trưởng dài hạn và các quốc gia càng hội nhập kinh tế sâu rộng thì sẽ đạt các chỉ số phát triển càng cao. Bên cạnh đó, vấn đề đối với các nước đang phát triển không còn là việc có trao đổi hay không, mà là phải trao đổi như thế nào để phát triển kinh tế bền vững.
Nguyễn Thị Anh và Phan Thị Phương Linh (2022) với chủ đề “Tác động của thương mại quốc tế đến tăng trưởng kinh tế TP. Hồ Chí Minh” đã chỉ ra những đóng góp của quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế mà thương mại quốc tế đem lại cho TP Hồ Chí Minh. Nhìn chung, tỷ trọng của thương mại quốc tế trên GRDP của TP ngày càng gia tăng, cơ cấu XNK của thành phố (TP) có liên hệ mật thiết với định hướng NK phục vụ công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Nhập khẩu giúp TP thực hiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khá hiệu quả, bên cạnh đó cùng với thặng dư thương mại giúp TP có nguồn lực để phát triển kinh tế- xã hội.
Ngoài những nghiên cứu thuộc 4 nhóm kể trên, còn có thể kể đến các bài viết nói về một số giải pháp XNK bền vững nhằm phục vụ phát triển kinh tế cho Việt Nam sau đại dịch COVID-19. Có thể kể đến Nguyễn Văn Hội (2023) với chủ đề “Giải pháp phát triển xuất nhập khẩu bền vững giai đoạn tới”, hay Hoàng Đức Thân và các cộng sự (2023) với chủ đề “Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đến năm 2030”. Nhìn chung, những bài nghiên cứu của nhóm này đã chỉ ra 1 số xu hướng của XNK toàn cầu trong thời gian tới như: cách mạng công nghiệp 4.